Bài Thơ Quê Hương Của Giang Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Tả Cảnh Quê Hương Vào Buổi Sáng Mùa Hè Lớp 6 Hay Nhất
  • Chọn Lọc 100 Bài Thơ Về Thầy Cô Giáo Tự Sáng Tác Ngắn Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Về Thầy Cô Hay Nhất ❤️ Thơ Chúc Mừng 20/11
  • 16 Bài Thơ Hay Về Thầy Cô Và Mái Trường Yêu Dấu
  • Thơ Tiếng Anh Về Thầy Cô
  • Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường

    Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:

    “Ai bảo chăn trâu là khổ ?”

    Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao

    Nhớ những ngày trốn học

    Đuổi bướm cầu ao

    Mẹ bắt được…

    Chưa đánh roi nào đã khóc

    Có cô bé nhà bên

    Nhìn tôi cười khúc khích…

    Cách mạng bùng lên

    Rồi kháng chiến trường kỳ

    Quê tôi đầy bóng giặc

    Từ biệt mẹ tôi đi

    Cô bé nhà bên (có ai ngờ)!

    Cũng vào du kích

    Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích

    Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi)

    Giữa cuộc hành quân không nói được

    một lời…

    Đơn vị đi qua tôi ngoái đầu nhìn lại

    Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi

    Hòa bình tôi trở về đây

    Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày

    Lại gặp em

    Thẹn thùng nép sau cánh cửa

    Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ

    – Chuyện chồng con… (khó nói lắm anh ơi)!

    Tôi nắm bàn tay, ngậm ngùi, nhỏ nhắn

    Em để yên trong tay tôi nóng bỏng

    Hôm nay nhận được tin em

    Không tin được dù đó là sự thật

    Giặc bắn em rồi quăng mất xác

    Chỉ vì em là du kích em ơi!

    Đau xé lòng anh chết nửa con người!

    Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm

    Có những ngày trốn học bị đòn roi

    Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

    Có một phần xương thịt của em tôi

    ***

    Когато бях дете и ходех на училище,

    обиквах родната страна

    със всяка страница на детската ми книга.

    Там пишеше : “Кой казва, че е трудно

    да пасеш биволи в гората, на полето ?”

    И закопнях за песните на птиците в гората. . .

    Понявга майка ме улавяше, когато

    край блатото подгонех пеперуда,

    вместо да ида в клас. Да бяхте чули

    как жално плачех, преди да са ме още били !

    Едно момиченце в съседната ни къща

    ме гледаше и дяволито се усмихваше.

    Покриха вражи сенки моята страна.

    Сбогувах се със майка и заминах.

    И, представете си, съседското момиче

    и то поело в горските усои.

    Веднъж случайно я видях по пътя.

    Тя пак тъй дяволито се усмихна,

    очите й блестяха черно-черни.

    Защо така привличаха очите й ?

    Не разменихме дума : аз бях в строй,

    но се обръщах дълго, много дълго.

    Над нас валеше. В мен блестеше слънце.

    Мирът настъпи. Върнах се във къщи,

    в училище, в оризището при браздите.

    И пак видях съседката ни млада,

    която криеше главица зад пердето.

    Тя се усмихваше – потайна, дяволита.

    Когато я запитах един ден

    дали сърцето й все е свободно,

    “Въпросът ти е, знаеш, неудобен. . .”

    отвърна и главата си наведе.

    Цял разтреперан, пълнен с бяла нежност,

    аз хванах тънките й пръсти.

    Тя ги остави да почиват в ръцете ми горещи.

    И връхлетя внезапно новината –

    така ужасна, че не смея да повярвам :

    Убили са те, сестро, о, любима !

    Захвърлили те нейде във гората.

    Защо ли ? През войната

    ти си си била – ето твоя грях.

    Сърцето ми раздират остри пръсти.

    Не зная, жив ли съм, или съм вече прах. . .

    Като дете обичах родната страна за птиците и пеперудите й.

    С тях ходех на училище в гората.

    Обичам днес страната си, защото всяка нейна шепа пръст

    съдържа малко от кръвта на моята любима.

    Превел Стефан Гечев

    – Bài thơ làm trong một giờ.

    “Hồi đó, tôi giác ngộ cách mạng rất sớm, từ năm 20 tuổi, lại được người anh trai – nhà cách mạng Nguyễn Lưu- truyền cho bầu nhiệt huyết, nên luôn sôi sục ý chí chiến đấu và sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Có năng khiếu chữ nghĩa nên khi vào hoạt động cách mạng, tôi được giao nhiệm vụ tuyên huấn”- nhà thơ Giang Nam bồi hồi nhớ lại. Chính những ngày làm cán bộ dân chính, Giang Nam đã nảy nở tình yêu với bà Phạm Thị Chiều – người đã đi suốt cuộc hành trình của đời ông và cũng chính là nhân vật làm bật lên cảm xúc để ông viết bài thơ Quê hương. Thời khắc nghiệt của chiến tranh, tình yêu bung nở một cách giản dị nhưng có sức gắn kết bền chặt đến phi thường. “Cùng làm ở cơ quan dân chính Phú Khánh, hồi đó tôi rất thích vợ tôi nhưng xung quanh cô ấy lại có rất nhiều người theo đuổi, nên tôi chỉ còn cách mỗi lần đến đưa công văn, gửi kèm cho cô ấy một lá thư chứ không dám đến hỏi thêm gì. Viết thư cũng chỉ dám hỏi mấy câu đơn giản như; anh có ý thích em, em nghĩ thế nào?”. Sau lá thứ hai, Giang Nam bồn chồn chờ đợi suốt cả tuần lễ, cuối cùng cũng nhận được hồi âm… Từ đó, họ bắt đầu một tình yêu và không lâu sau thì làm đám cưới (vào đầu năm 1955).

    Nhà thơ Giang Nam

    Cưới xong ở với nhau được đúng hai đêm, ông lại phải nhận nhiệm vụ mới ở Bình Định. Đây cũng là cái mốc đánh dấu cho những chuỗi ngày xa nhau đằng đẵng của ông bà. Ông miệt mài với công việc tổ chức giao, âm thầm tham gia tờ báo hợp pháp với tên gọi Gió mới, hoạt động công khai tại nội thành Nha Trang. Khi Mỹ nguỵ tiến hành các đợt “tố cộng”, “diệt cộng”, cán bộ đảng viên ở miền Nam phải tổ chức đổi vùng để tránh bị lộ. Tổ chức đã sắp xếp để ông bà chuyển vùng hoạt động về Biên Hoà. “Lần đoàn tụ này, chúng tôi vô cùng xúc động nhưng vẫn phải giữ bí mật tuyệt đối cho cách mạng. Cũng tại Biên Hòa, vợ tôi sinh hạ đứa con gái đầu tiên và cũng là duy nhất cho đến giờ, ngay sau khi vợ sinh, tôi được tổ chức rút về lại KhánhHoà. Sau đó không lâu, vào một buổi tối giữa năm 1960, giữa lúc trời mưa tầm tã, tôi được cấp trên gọi lên trấn an tư tưởng, thăm hỏi động viên rồi thông báo tin chẳng lành, có thể vợ và con gái tôi đã bị địch giết hại trong nhà tù tại Phú Lợi (Bình Dương). Đau đớn đến bàng hoàng, sự thương cảm xót xa cứ thế trào lên. Tất cả những kỷ niệm cũ, tình yêu nghẹn ngào, những giận hờn và buổi chia tay đầy nước mắt như sống dậy xót xa, nhức nhối, tôi đã phải bật khóc nức nở và chỉ trong một giờ đồng hồ, tôi đã viết xong bài thơ Quê hương. Viết liền mạch, không tẩy xóa, không thay đổi” – Giang Nam bộc bạch sự ra đời của bài thơ Quê hương.

    Tạo cảm hứng cho một đời

    Dù những ngày tháng đau khổ đã đi qua, rất lâu, nhưng mỗi lần nhắc đến những mất mát hy sinh, từ phía sau cặp kính cận, khuôn mặt Giang Nam vẫn như nặng trĩu nỗi ưu tư. Những kỷ niệm chiến trường găm sâu trong ký ức lại trỗi dậy. Ông thổ lộ rằng: “Với tôi, đau thương cũng là một sức mạnh. Sau khi làm xong bài Quê hương, tôi đưa cho cấp trên đọc, ngay lập tức nhận được sự đồng cảm. Rồi sau đó ít ngày, tôi gửi bài thơ ấy cho báo Thống Nhất ở Hà Nội. Tháng 9.1961, đang trên đường công tác ở huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), tôi bất chợt nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc bài thơ Quê hươngcủa mình và thông báo được giải Nhì báo Văn Nghệ.

    Trong giây phút vui mừng đó, tất cả hình ảnh người vợ thân yêu cùng đứa con nhỏ của mình lại ùa về. Một lần nữa tôi bật khóc. Có lẽ mỗi câu thơ trong bài Quê hương đều hàm chứa hình ảnh người vợ của tôi. Cũng từ đó, tôi lao vào làm thơ phục vụ cách mạng, làm báo tuyên truyền, cổ vũ đồng chí của mình như một nhiệm vụ cao cả” – Nhà thơ Giang Nam bồi hồi kể lại. Ngày nhận thư của nhà thơ Hoàng Trung Thông mời ra Ha Nội nhận giải, Giang Nam đau đáu trong lòng một suy nghĩ: Phải chăng những tình cảm tha thiết, chân thành, xót xa đã giúp người ta có những câu thơ hay. Cũng từ đó, ông luôn nuôi cho mình một ý thức viết một cách chân thành và tha thiết nhất. Đúng vào ngày nhận giải, nhà thơ Chế Lan Viên đã gọi Giang Nam lại và nhận xét rằng: “Cả bài thơ Quê hương của Giang Nam và Núi đôi của Vũ Cao đều nói về sự hy sinh của người con gái, của tình yêu và nỗi cách xa. Nhưng, bài Quê hươngcủa Giang Nam đau quá! Tuy bài thơ được giải Nhì nhưng sẽ có sức sống vượt thời gian”. Sau khi bài thơ Quê hương được công bố, rất nhiều cuộc mít tinh chớp nhoáng đã lấy bài thơ này ra đọc lên như một sự cổ vũ. “Lúc đó, tôi vô cùng sung sướng, thấy mình như được tiếp thêm niềm đam mê, viết không ngưng nghỉ” – Giang Nam cho biết.

    Nguyễn Quang Sáng, Hoài Vũ, Giang Nam, Chim Trắng ở chiến trường Tây Ninh (năm 1974).

    Cuộc sống luôn hàm chứa những bất ngờ, cứ đinh ninh vợ con đã bị địch giết chết nhưng giữa năm 1962, bà Chiều và con gái bất ngờ được thả về, do địch không tìm ra căn cứ kết tội. Nỗi vui mừng chưa được bao lâu, năm 1968, vợ Giang Nam lại bị địch bắt lần thứ hai cho đến mãi năm 1973 mới được thả, nhờ một luật sư giỏi bào chữa. Nhớ lại thời kỳ này, giọng ông lại nấc lên: “Suốt hai lần vào tù, ra tội, những ngày dài sống đằng đẵng trong xà lim, đứa con gái duy nhất của tôi vẫn phải bám sát lấy mẹ. Ai có tách ra nó cũng không chịu. Có những ngày bị lạnh tím tái, tưởng chừng như đã ra đi. Có lúc sợ nó nhớ tôi, vợ tôi đã trùm chiếc áo cũ tôi lên người nó. ‘Tận khổ cam lai’, giờ vợ và con tôi vẫn khỏe mạnh. Sau ngày giải phóng, tôi có đi tìm lại người luật sư bào chữa cho vợ tôi để cảm ơn nhưng không gặp”.

    Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1976, theo điều động của tổ chức, Giang Nam vào làm việc tại TP Hồ Chí Minh. Năm 1978, chấp hành ý kiến của cấp trên, ông ra Hà Nội làm Thường trực Hội Nhà văn VN. Năm1989 (tách tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa), Tỉnh ủy Khánh Hòa xin ông về làm phó chủ tịch UBND tỉnh – Phụ trách văn xã. Cứ tưởng rằng bước vào đường quan, cảm xúc thơ của ông sẽ giảm đi nhưng đúng như ông nói: “Có về nơi cuối trời vẫn đau đáu với quê hương, với thơ ca. Được làm việc trên quê hương của mình, được phục vụ nhân dân, lại được nhiều người quý trọng và nhớ đến bài thơ Quê hương nổi tiếng nên tôi vẫn miệt mài viết, viết cho đến hơi thở cuối cùng mới thôi”.

    Chính trong thời gian làm phó chủ tịch tỉnh, có dịp tiếp cận nhiều hơn với người dân cũng như muôn mặt của cuộc sống nên ông đã cho ra đời trường ca Sông Dinh mùa trăng khuyết. Vì cái đam mê viết nên hiện nay, dù tuổi đã cao, ông vẫn làm đại diện báo Văn Nghệ tại Khánh Hòa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chùm Thơ Người Xa Quê Của Nhiều Tác Giả
  • Thơ Hay Về Cuộc Sống Xa Quê
  • Phân Biệt Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản
  • Phân Tích Bài Thơ Thu Hứng Của Đỗ Phủ Để Thấy Được Cảnh Sắc Mùa Thu Và Nỗi Nhớ Quê Hương
  • Quê Hương Và Nỗi Nhớ Trong Thơ Bùi Đức Ánh
  • Nhà Thơ Giang Nam Và Bài Thơ Quê Hương

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Tả Quả Chuối Lớp 5 Hay Nhất
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Quả Na Đặc Sắc : Nuôi Dưỡng Tâm Hồn Thiếu Nhi
  • Bài Thơ Quả Na Đặc Sắc : Nuôi Dưỡng Tâm Hồn Thiếu Nhi
  • Đế Tài Thơ Ăn Quả
  • Đề Tài: Thơ Ăn Quả Lớp 5 Đến 6 Tuổi
  • Trong một chuyến đi sáng tác thực tế ở Miền Trung tháng 4/2003 tôi đã gặp nhà thơ Giang Nam qua sự giới thiệu của nhà nhiếp ảnh Nguyễn Viết Thái ( giám đốc nhà sáng tác Nha Trang ). Bài thơ Quê Hương của Giang Nam đã được sự mến mộ của đọc giả qua nhiều năm rồi ,hầu hết đều thuộc nằm lòng. Thật ra trong nền thi ca hiện đại Việt Nam có tới 3 bài thơ mang tên Quê Hương: bài Nhớ con sông Quê hương của Tế Hanh sáng tác thời kháng chiến chống Pháp ( có trong Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8 ),bài Quê Hương của Giang Nam trong thời chống Mỹ và bài Quê Hương của Đỗ Trung Quân được nhạc sỹ Giáp Văn Thạch phổ ( sáng tác sau 75).

    Bài thơ Quê hương của Giang Nam nói lên nỗi đau thương mất mát tột cùng của những người yêu nước trong thời kì đấu tranh gian khổ nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ ( những năm 60 ) và nó càng lan xa hơn nữa khi được co ánhạc sỹ Phạm Trọng Cầu phổ nhạc:

    Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao…

    Một buổi sáng tại số 01 đường Quang Trung – tp Nha Trang ( trụ sở Hội VHNT Nha Trang ) ông kể lại về sự ra đời bài thơ Quê Hương.Bài thơ được sáng tác năm 1960 tại khu căn cứ bí mật Tỉnh uỷ Khánh Hoà ( dưới chân núi Hòn Dù )sau khi nghe tin người vợ thân yêu đang hoạt động nội thành bị giặc bắt tra tấn và hi sinh trong tù. Trong giây phút đau đớn lặng người ông đã viết liền một mạch thơ như trải nỗi đau mình lên trang giấy:

    Giặc bắt em rồi quăng mất xác Đau xé lòng anh chết nửa con người …… xưa yêu quê hương vì có hoa có bướm Có những ngày trốn học bị đòn roi…. Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất Có một phần xương thịt của em tôi

    Làm xong bạn bè thấy hay gửi ra Hà Nội,chiến tranh ngày càng ác liệt khiến ông quên bài thơ. Rồi một chiều năm 1961 trên đường hành quân,qua Đài tiếng nói Việt Nam ông mới biết bài thơ mình chiếm giải nhì Tạp chí văn nghệ,đồng đội ăn mừng chiêu đãi ông một nồi chè bắp.Từ đó tên tuổi ông được bạn đọc cả nước biết đến kể cả trong vùng tạm chiếm, sinh viên- học sinh chuyền thơ nhau đọc..

    Hiện nay ông vẫn còn tâm huyết với nghề thơ mặc dù đã cao tuổi ( ông sinh năm 1929 tại Ninh Hoà ),các tác phẩm tiêu biểu của ông sau nầy như : Vầng sáng phía chân trời ( 1975) Hạnh phúc từ nay (1978)-Thành phố chưa dừng chân (1987)..

    Từ giã ông,tôi nói vui :..ôâng cười nói : – ở Việt nam có ba bài thơ Quê Hương, hai người nhạc sỹ phổ nhạc đều đã mất.. . còn lại nhà thơ Tế Hanh, chú và Đỗ Trung Quân – Đúng vậy! Sanh lão bệnh tử ,thượng đế đã an bài nhưng cái nghiệp văn chương thì đeo bám mãi suốt đời mìmh, con tằm đến thác vẫn còn vương tơ mà…

    Trại sáng tác Nha Trang 2003

    Đào Thị Nhung @ 12:51 14/07/2009

    Số lượt xem: 2856

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trường Thpt Nguyễn Thị Minh Khai
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Quê Hương Giang Nam
  • Chàng Tây “xuyên Tạc” Thơ Qua Đèo Ngang
  • Phân Tích Bài Thơ ‘qua Đèo Ngang’của Bà Huyện Thanh Quan
  • Phân Tích Nhận Xét Của Tế Hanh Về Bài Thơ “qua Đèo Ngang”
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Quê Hương Giang Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Trường Thpt Nguyễn Thị Minh Khai
  • Nhà Thơ Giang Nam Và Bài Thơ Quê Hương
  • Bài Tả Quả Chuối Lớp 5 Hay Nhất
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Quả Na Đặc Sắc : Nuôi Dưỡng Tâm Hồn Thiếu Nhi
  • Bài Thơ Quả Na Đặc Sắc : Nuôi Dưỡng Tâm Hồn Thiếu Nhi
  • Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường

    Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:

    “Ai bảo chăn trâu là khổ?”

    Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao

    Những ngày trốn học

    Đuổi bướm cầu ao

    Mẹ bắt được…

    Chưa đánh roi nào đã khóc!

    Có cô bé nhà bên

    Nhìn tôi cười khúc khích…

    ***

    Cách mạng bùng lên

    Rồi kháng chiến trường kỳ

    Quê tôi đầy bóng giặc

    Từ biệt mẹ tôi đi

    Cô bé nhà bên – (có ai ngờ!)

    Cũng vào du kích

    Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích

    Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!)

    Giữa cuộc hành quân không nói được một lời

    Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại…

    Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi…

    ***

    Hoà bình tôi trở về đây

    Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày

    Lại gặp em

    Thẹn thùng nép sau cánh cửa…

    Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ

    Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)

    Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi

    Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng…

    Hôm nay nhận được tin em

    Không tin được dù đó là sự thật

    Giặc bắn em rồi quăng mất xác

    Chỉ vì em là du kích, em ơi!

    Đau xé lòng anh, chết nửa con người!

    Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm

    Có những ngày trốn học bị đòn roi…

    Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

    Có một phần xương thịt của em tôi

    1960

    Bài thơ được sáng tác năm 1960 tại khu căn cứ bí mật Tỉnh uỷ Khánh Hoà ( dưới chân núi Hòn Dù )sau khi nghe tin người vợ thân yêu đang hoạt động nội thành bị giặc bắt tra tấn và hi sinh trong tù. Trong giây phút đau đớn lặng người ông đã viết liền một mạch thơ như trải nỗi đau mình lên trang giấy

    Cảm nhận về bài thơ Quê hương của nhà thơ Giang Nam

    Quê hương, chỉ hai từ thôi nhưng vô cùng thân thương đến lạ. Quê hương, nơi mình sinh ra, nơi mình lớn lên, nơi lưu giữ những kỉ niệm tuổi thơ. Khi nhắc đến quê hương ai cũng cảm thấy tự hào, đó là một thứ tình cảm vô cùng thiêng liêng và cao cả.

    Và với bài thơ Quê hương của nhà thơ Giang Nam cũng thế. Quê hương, dòng chảy bất tận của ký ức, quê hương là nơi ta tìm về sau những phong ba của cuộc đời.

    Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường

    Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:

    “Ai bảo chăn trâu là khổ?”

    Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao.

    Những ngày trốn học

    Đuổi bướm cầu ao

    Mẹ bắt được…

    Chưa đánh roi nào đã khóc

    Có cô bé nhà bên

    Nhìn tôi cười khúc khích

    Mắt đen tròn thương thương quá đi thôi.

    Mở đầu bài thơ là nỗi nhớ về tuổi thơ, là niềm thương nhớ và yêu quê hương từ thuở “cắp sách tới trường” từ thuở “chăn trâu cắt cỏ”. Không gian thơ mở ra với bàng bạc nỗi nhớ về thuở ấu thơ, với những trò nghịch ngợm của trẻ thơ đó là “trốn học”, “đuổi bướm…Những vần thơ mộc mạc, giản dị càng đọc càng thấm thía về một quê hương tuổi thơ trong kỉ niệm.

    Dòng thời gian trôi mãi, tuổi thơ rồi lớn lên, đất nước kêu gọi, cậu bé ngày ấy nay đã trưởng thành, lên đường theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Thật bất ngờ, “cô bé nhà bên” ngày xưa ấy cũng trở thành đồng chí:

    Cách mạng bùng lên

    Rồi kháng chiến trường kì

    Quê tôi đầy bóng giặc.

    Từ biệt mẹ tôi đi

    Cô bé nhà bên – (có ai ngờ)

    Cũng vào du kích.

    Tình bạn trẻ thơ giờ đã trưởng thành thêm một bậc, sự trưởng thành này phù hợp với hoàn cảnh xã hội chung lúc bấy giờ, như một điều tất yếu.

    Chính vì có được nền tảng là tình bạn từ những ngày ấu thơ nên khi bất chợt gặp nhau trên giữa đường hành quân, dẫu “mưa đầy trời” nhưng chàng trai vẫn thấy “lòng tôi ấm mãi” bởi nụ cười khúc khích và cảm xúc “thương thương quá đi thôi” đan xen giữa quá khứ và hiện tại.

    Chiến tranh, kẻ thù xâm lược dẫu tàn ác cũng không xóa bỏ được nét trong trẻo trong tâm hồn của những chàng trai cô gái một thời. Họ vượt lên trên sự tàn ác của kẻ thù bằng chính sự thiện lương, trong trẻo được nuôi dưỡng bởi chiều sâu văn hóa, tình người của dân tộc. Điều này Nguyễn Đình Thi đã từng thể hiện:

    Xiềng xích chúng bay không khóa được

    Trời đầy chim và đất đầy hoa

    Súng đạn chúng bay không ngăn được

    Lòng dân ta yêu nước thương nhà (Nguyễn Đình Thi – Đất nước).

    Bởi thế mà dù trải qua bao thăng trầm, bao súng đạn, bao chiến trường, ngày gặp lại, cô gái ngày xưa ấy vẫn

    “Thẹn thùng nép sau cánh cửa

    Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ

    Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)”.

    Điệu cười khúc khích như điệp khúc, như từng đợt sóng lòng trùng điệp mà đợt sau cao hơn đợt trước; để rồi chàng trai không cầm lòng được mà:

    “Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi

    Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng…”

    Tình yêu thời chiến đến thật nhẹ nhàng như một điều hiển nhiên. Tình yêu đôi lứa ấy được đặt trên nền tảng vững chắc của tình bạn thuở ấu thơ và tình đồng chí, cùng chung lí tưởng của khi trưởng thành.

    Chính điều này làm cho tình yêu lứa đôi hòa vào tình yêu quê hương đất nước, cái riêng đã hòa vào cái chung khiến cho tình yêu chung cho quê hương thêm sâu sắc mà cũng khiến cho tình cảm riêng càng trở nên rộng lớn, bền vững hơn.

    Ít ai biết bài thơ có một nguyên mẫu trong đời thực: “cô bé nhà bên” chính là người vợ, người bạn đời của tác giả. Hoàn cảnh bài thơ được ra đời trong hoàn cảnh khá đặt biệt: Năm 1960, nhà thơ nhận được tin vợ và con mình bị giặc giết hại trong nhà tù Phú Lợi; cảm xúc cuộn lên chất ngất, ngay trong đêm bài thơ được ra đời, những câu thơ cứ ùa về cùng với nỗi đau không thể kìm nén:

    Hôm nay nhận được tin em

    Không tin được dù đó là sự thật

    Giặc bắn em rồi quăng mất xác

    Chỉ vì em là du kích, em ơi!

    Đau xé lòng anh chết nửa con người.

    Nỗi đau xót đến tê tái, đến chết lịm người khi nghe tin “em” bị “giặc bắn em rôi quăng mất xác” tình cảm càng bền vững, càng nên thơ khi mất càng gây đau đớn. Từ cô bạn ấu thơ, rồi đồng đội đồng chí, đến người yêu, giờ “giặc bắn em rồi quăng mất xác” càng đau đớn, càng xót xa và tố cáo tội ác của giặc xâm lược.

    Tình yêu quê hương bây giờ đã khác:

    Xưa yêu quê hương vì có hoa có bướm

    Có những ngày trốn học bị đòn roi

    Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

    Có một phần xương thịt của em tôi.

    Tình riêng giờ hòa vào tình chung, không chỉ là ở nghĩa biểu tượng mà ở nghĩa thực của nó. Quê hương không chỉ là khái niệm chung chung mà gắn với người con gái ta yêu, là một phần của cuộc đời, một phần không thể tách rời của thân thể.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chàng Tây “xuyên Tạc” Thơ Qua Đèo Ngang
  • Phân Tích Bài Thơ ‘qua Đèo Ngang’của Bà Huyện Thanh Quan
  • Phân Tích Nhận Xét Của Tế Hanh Về Bài Thơ “qua Đèo Ngang”
  • Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Đôi Điều Cảm Nhận Bài Thơ “qua Đèo Ngang” Củabàhuyện Thanh Quan
  • Yêu Quê Hương Qua Từng Trang Sách Nhỏ: Giang Nam Với Bài Thơ Quê Hương

    --- Bài mới hơn ---

  • Mạch Cảm Xúc Quê Hương
  • Những Bài Thơ Hay Về Tình Yêu Quê Hương, Đất Nước
  • + 500 Bài Thơ Về Tình Yêu Quê Hương Đất Nước Con Người
  • Những Lời Chúc, Bài Thơ Và Bài Luận Tiếng Anh Về Chủ Đề Nhà Giáo ⋆ Sie.vn
  • Những Bài Thơ Hay Về Thầy Cô Cho Trẻ Mầm Non Nhân Ngày 20/11
  •     Bài thơ Quê hương nổi tiếng của Giang Nam từng được đưa vào sách giáo khoa và bao thế hệ học trò đã thuộc lòng từng câu, từng chữ…

        Ở đó, người đọc bị cuốn hút, ám ảnh bởi những tiếng cười khúc khích thật hồn nhiên để rồi bỗng thấy hụt hẫng khi nghe tin dữ…

        Ở phần mở đầu bài thơ: Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường/Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ/“Ai bảo chăn trâu là khổ?”/Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao…, có lẽ lúc hoài niệm về thời thơ ấu, trong ký ức của tác giả đã hiện lên thấp thoáng những câu hát của… Phạm Duy: Ai bảo chăn trâu là khổ?Chăn trâu sướng lắm chứ!Ngồi mình trâu phất ngọn cờ lau và miệng hát nghêu ngao… (Em bé quê). Bởi nếu không thì tác giả đã không để câu Ai bảo chăn trâu là khổ trong ngoặc kép. Tuy nhiên, dẫu có như vậy thì câu này cũng liền mạch với một tứ thơ hết sức trong trẻo, hồn nhiên: … Những ngày trốn học/Đuổi bướm cầu ao/Mẹ bắt được/Chưa đánh roi nào đã khóc!/Có cô bé nhà bên/Nhìn tôi cười khúc khích… Một điều chắc chắn rằng, sở dĩ bài thơ có sức hấp dẫn người đọc là bởi tuy tác giả sử dụng những câu chữ mộc mạc nhưng lại khéo dụng công ở những lần “cô bé nhà bên cười khúc khích”, tạo nên một ấn tượng khó quên…

    “Cô bé” ấy là ai?

            “Cô bé” ấy tên thật là Phạm Thị Triều, sinh ra trong một gia đình có nghề làm mắm gia truyền ở Vĩnh Trường (Nha Trang). Nghề làm mắm cũng là để đóng góp kinh tài cho cách mạng. Cô bé Triều mới “trổ mã” đã theo chị gái lên căn cứ Đồng Bò. Gia đình thấy Triều còn nhỏ quá, cho người nhắn về nhưng cô nhất quyết không về. Khi mặt trận Nha Trang vỡ, Triều được điều về làm ở khối Dân chính của Tỉnh ủy Phú Khánh, đóng ở Đá Bàn. Chính nơi đây, cô đã gặp chàng trai sau này trở thành nhà thơ Giang Nam…

        Còn anh chàng Nguyễn Sung (tên thật của Giang Nam), mới 16 tuổi đã bỏ học giữa chừng vì nhà trường đóng cửa do thời cuộc (Nhật đảo chính Pháp tháng 8.1945). Cậu theo anh trai là nhà cách mạng Nguyễn Lưu tham gia Việt Minh ở mặt trận Phú Khánh. Khoảng đầu năm 1954, Nguyễn Sung được điều về căn cứ Đá Bàn và anh bộ đội trẻ đã “ngẩn ngơ” trong lần đầu gặp Phạm Thị Triều.

        Ít lâu sau anh biết thêm rằng không phải chỉ mình anh mà cả đám lính trẻ cũng thường tìm cớ này, cớ nọ để tạt vào cơ quan chỉ để… nhìn cô Triều một cái. “Bạo phổi” lắm thì cũng chỉ nói vu vơ một câu rồi… biến! Chuyện yêu đương, trai gái trong cùng tổ chức hồi ấy hầu như bị cấm nghiêm ngặt. Tuy nhiên, là một anh lính có “chút thơ văn” nên Nguyễn Sung vẫn nghĩ được cách tiếp cận người đẹp. Trước tiên, anh vận dụng khả năng thơ văn của mình để được giao nhiệm vụ chạy công văn. Và thế là mỗi lần đưa công văn đến cơ quan, anh lại kèm theo một lá thư (viết sẵn) cho nàng mà không nói năng, hỏi han gì thêm vì sợ lộ. Phải hơn một tuần sau lá thư thứ hai, anh mới “sướng rêm người” khi được nàng “ừ” (trong bức thư hồi âm)…

        Yêu nhau “kín đáo” như thế mà vẫn không giấu được ai, may mà cả anh lẫn chị đều được anh em thương mến nên trước ngày anh ra Bình Định tham gia Đoàn Sĩ quan liên bộ đình chiến, chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định Genève, cơ quan đã tổ chức đám cưới cho họ. Sống với nhau được hai đêm thì anh lên đường, còn chị trở lại Nha Trang… Từ buổi đó, đôi vợ chồng trẻ phải luôn chịu cảnh xa cách, gian truân…

        Sau Hiệp định Genève (tháng 7.1954), Nguyễn Sung vào hoạt động trong lòng địch, trong vai trò công nhân ở một xưởng cưa và âm thầm viết cho tờ Gió mới – là tờ báo hợp pháp ở Nha Trang. Tuy hoạt động cùng địa bàn nhưng đôi vợ chồng son vẫn không thể gặp nhau vì khác tuyến, phải tuân giữ kỷ luật khắt khe để không bị lộ… Mãi đến năm 1958, tổ chức chuyển vùng công tác cho họ vào Biên Hòa thì họ mới thật sự có những ngày hạnh phúc bên nhau, dù khoảng thời gian này cũng rất ngắn ngủi. Họ thuê một căn nhà nhỏ trong xóm lao động nghèo. Ông làm mướn cho một nhà thầu khoán, còn bà buôn bán lặt vặt…

        Một thời gian sau, tổ chức lại rút ông về lại Khánh Hòa, bà Triều ở lại một mình nuôi con. Mỗi đêm, nghe con gái khóc ngằn ngặt vì nhớ cha, bà Triều phải lấy chiếc áo cũ của chồng đắp lên người con để “có hơi của ông ấy cho nó nín khóc”. Sau này, ông đã mượn lời vợ, và mượn luôn sự cố khóc đêm của con để bày tỏ nỗi nhớ thương: Con nhớ anh thường đêm biếng ngủ/Nó khóc làm em cũng khóc theo/Anh gởi về em manh áo cũ/Đắp cho con đỡ nhớ anh nhiều… (Lá thư thành phố).

    Quê hương ra đời trong hoàn cảnh nào?

        Trong hồi ký Sống và viết ở chiến trường, Giang Nam đã kể lại như sau: “Bài thơ Quê hương ra đời năm 1960, dưới chân núi Hòn Dù, cách chúng tôi Trang hơn 40 cây số về phía tây. Lúc ấy, tôi đang là Phó ban Tuyên huấn của Tỉnh ủy Khánh Hòa. Chiều hôm ấy, anh Phó bí thư Tỉnh ủy đã gọi tôi lên chỗ anh ở (một căn chòi nhỏ giữa rừng). Anh ân cần hỏi thăm tôi về tình hình công tác, sức khỏe… Tôi linh cảm thấy có điều gì không bình thường. Quả nhiên sau đó, anh nói thật: Tin của cơ sở trong thành vừa báo cho biết vợ và con gái tôi bị địch bắt trước đó hơn một năm đã bị chúng thủ tiêu… Tôi bàng hoàng, trời đất như sập xuống đầu mình… Trong nỗi đau đớn tột cùng, tôi ngồi trong căn chòi nhỏ, trước mắt là ngọn đèn dầu lù mù được che kín ba mặt, tôi đã viết một mạch xong bài thơ, không xóa sửa chút nào… Không phải tôi làm thơ mà là ghi lại những ký ức, những hình ảnh đã trở thành máu thịt trong tôi. Từng đoạn nước mắt tôi trào ra, nhất là ở hai câu cuối của bài: Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/Có một phần xương thịt của em tôi”.

        Bài thơ được ký tên Giang Nam, bởi dạo còn đi học ông rất thích những câu thơ của Hồ Dzếnh: Tô Châu lớp lớp phủ kiều/Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam… Sau đó, ông gửi bài thơ theo đường giao liên cho Báo Thống Nhất (Hà Nội), vì chỉ có tờ báo này được chuyển vào chiến trường phía Nam. Khoảng tháng 8.1961, trên đường công tác qua huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), qua chiếc radio, ông nghe Đài phát thanh Việt Nam đọc bài thơ Quê hương và thông báo bài thơ này đoạt giải nhì của Báo Văn nghệ. Trong giây phút vui mừng đó, hình ảnh thân yêu của vợ con ông lại ùa về, ông bật khóc…

        Đinh ninh là vợ con mình đã chết, Giang Nam lao vào công tác, nhất là trên mặt trận văn hóa. Bỗng giữa năm 1962, vợ con ông được thả về vì địch không tìm được chứng cứ. Sum họp chưa được bao lâu, vợ ông lại bị bắt lần thứ hai (1968), đứa con gái cứ bám riết lấy mẹ nên cũng… bị tù. Mãi đến năm 1973 họ mới được trả tự do…

        Hiện nay, đôi “bách niên – đồng chí” đều đã qua ngưỡng tuổi 80, họ vẫn hạnh phúc bên nhau trong căn nhà số 46 đường Yersin (TP.Nha Trang).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Của Giang Nam Chi Tiết
  • Bài Văn: Phân Tích Bài Thơ “Quê Hương”
  • Phân Tích Bài Thơ Quê Hương ( Tế Hanh )
  • “Bài Thơ Quê Hương”, Một Bài Thơ Ít Biết Của Nguyễn Bính – Nguyễn Đình Minh – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng
  • Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một ?
  • Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Của Giang Nam Chi Tiết

    --- Bài mới hơn ---

  • Yêu Quê Hương Qua Từng Trang Sách Nhỏ: Giang Nam Với Bài Thơ Quê Hương
  • Mạch Cảm Xúc Quê Hương
  • Những Bài Thơ Hay Về Tình Yêu Quê Hương, Đất Nước
  • + 500 Bài Thơ Về Tình Yêu Quê Hương Đất Nước Con Người
  • Những Lời Chúc, Bài Thơ Và Bài Luận Tiếng Anh Về Chủ Đề Nhà Giáo ⋆ Sie.vn
  • Phân tích bài thơ Quê hương của Giang Nam ta thấy được câu chuyện nhớ thương của những con người có chung kỷ niệm, chung lý tưởng. 

    Bài thơ Quê hương của Giang Nam đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận của thi, ca, nhạc, họa. Đây là bài thơ đánh dấu sự nghiệp thi cả của nhà thơ Giang Nam. Đã có nhiều phân tích bài thơ Quê hương của Giang Nam. Qua những phân tích ấy ta thấy được nỗi lòng nhớ thương giai dẳng của những con người bằng bức tranh quê hương rõ nét.

    Phân tích bài thơ Quê hương của Giang Nam

    Nhà thơ Giang Nam tên thật là Nguyễn Sung, sinh năm 1929. Ông là một nhà thơ nổi tiếng với nhiều tác phẩm đi vào lòng người. Phong cách thơ của Giang Nam luôn mang bóng hình của quê hương, đất nước. Và Quê hương chính là một trong những tác phẩm thơ nổi bật của Giang Nam. 

    Bài thơ được sáng tác năm 1960 khi Giang Nam đang hoạt động ở căn cứ Hòn Du. Bài thơ đậm chất tự sự, đó như là một đoạn ghi chép chân thật nhất về tâm trạng của nhà thơ khi nghe tin người vợ dấu yêu của mình bị giặc bắt và hy sinh. Phân tích bài thơ Quê hương của Giang Nam ta sẽ thấy được nỗi buồn chất chứa sâu thẳm trong từng câu chữ. 

    Phân tích bài thơ Quê hương của Giang Nam

    Qua 35 câu thơ, Giang Nam đã kể rất rõ câu chuyện chứa đựng đầy kỷ niệm, niềm vui và không khỏi xót xa của những người cùng chung lý tưởng. 

    • Luận điểm 1: Phân tích bài thơ Quê hương của Giang Nam – bóng hình quê hương trong ánh mắt tuổi thơ

    Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường

    Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ

    “Ai bảo chăn trâu là khổ?”

    Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao

    Những ngày trốn học

    Đuổi bướm cầu ao

    Mẹ bắt được

    Chưa đánh roi nào đã khóc

    Có cô bé nhà bên

    Nhìn tôi cười khúc khích…

    Mở đầu bài thơ, bức tranh thiên nhiên mang bóng hình quê hương hiện ra thật nhẹ nhàng mà đầy sâu sắc. Quê hương là những điều gần gũi, thân quen nhất. Tác giả yêu quê hương “qua từng trang sách nhỏ”, đó là nơi nuôi dưỡng tâm hồn và vun đắp cho những ước mơ. Trong mắt tác giả, quê hương luôn là điều hạnh phúc nhất. “Ai bảo chăn trâu là khổ” có lẽ là câu hỏi đặt ra cho người và cũng là cho chính mình. Chăn trâu, cắt cỏ chính là những điều gần gũi, thân thuộc nhất với quê hương. 

    Thế rồi, những hình ảnh trữ tình cứ thế xuất hiện. Cậu bé chăn trâu ấy “mơ màng nghe chim hót trên cao”, quê hương lúc ấy sao lại bình yên đến vậy. Không chỉ là không gian gần gũi, thân thuộc, quê hương trong lòng Giang Nam còn là những ngày trốn học “đuổi bướm cầu ao”. Dường như đây là kỷ niệm mà bất cứ đứa trẻ con vùng quê nào cũng từng trải qua. Bằng một câu thơ, Giang Nam đã làm ký ức ùa về trong bao người. Ấy rồi những trận đòn của mẹ trong ký ức của tác giả lại trở nên thân thương đến lạ.

    Hình ảnh cô bé nhà bên “nhìn tôi cười khúc khích” càng làm cho sự gần gũi của quê hương trở nên thân thuộc. Tuổi thơ ai chẳng có một cô bé nhà bên chuyên để chọc ghẹo, cùng làm những điều nghịch ngợm của tuổi thơ. Cô bé nhà bên ấy có lẽ là nhân vật trữ tình gắn bó thân thuộc với tác giả từ trong ký ức tuổi thơ đến khi trưởng thành.  

    • Luận điểm 2: Sự trưởng thành về nhận thức và tình yêu chớm nở của đôi trẻ

    Quê hương hiện lên trong mắt trẻ thơ thật nhẹ nhàng. Cùng với những kỷ niệm tuổi thơ ùa về ấy là sự trưởng thành của nhân vật trữ tình. Dường như, dù lớn lên xa quê hương thì hình bóng ấy vẫn mãi theo suốt cuộc đời của nhân vật. 

    Cách mạng bùng lên

    Rồi kháng chiến trường kỳ

    Quê tôi đầy bóng giặc

    Từ biệt mẹ, tôi đi

    Kháng chiến nổ ra, chàng thanh niên phải từ biệt mẹ, từ biệt quê hương để lên đường chiến đấu. Hình ảnh “quê tôi đầy bóng giặc” thể hiện khát khao chờ một ngày mai không còn bóng thù. Thế nên, bằng ý chí, bằng tình yêu quê hương đất nước da diết, chàng trai ấy sẵn sàng lên đường. Ở đây, Giang Nam đã dùng từ “từ biệt” thay vì “chào” càng khiến người đọc cảm giác một sự khắc nghiệt, xót xa. Có thể lần ra đi ấy sẽ chẳng thể nào quay trở về với mẹ, với quê hương. Nhưng sao nghe “từ biệt” thốt ra nó lại nhẹ tựa lông hồng vậy. Có lẽ vì quê hương, đất nước, chàng trai ấy sẵn sàng chiến đấu, không ngại mưa bom, bão đạn. Thế rồi, trong hoàn cảnh ấy, tác giả lại bất ngờ hơn nữa vì gặp được cô bé nhà bên. 

    Cô bé nhà bên (có ai ngờ)

    Cũng vào du kích

    Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích

    Mắt đen tròn (thương quá đi thôi)

    Giữa cuộc hành quân không nói được một lời

    Đơn vị đi qua tôi ngoái đầu nhìn lại

    Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi

    Hình ảnh cô bé nhà bên vẫn hiện lên thật đẹp. Nếu tác giả sẵn sàng lên đường ra trận, thì cô bé nhà bên cũng sẵn sàng vào du kích. Có lẽ đây là điều tác giả chẳng ngờ vì cô gái nhỏ bé, mong manh ấy. Vẫn là nụ cười khúc khích, vẫn là đôi mắt đen tròn sao hôm nay gặp cô bé tác giả lại thương đến lạ. Đó là cảm xúc của một người hàng xóm, hay là cảm xúc của một chàng trai, tác giả cũng không biết nữa. 

    Nhưng chính cô bé nhà bên ấy lại mang đến cảm giác ấm áp trong lòng cho tác giả. Dù rằng “giữa cuộc hành quân không nói được một lời”, nhưng có lẽ bao lời chất chứa đã được thể hiện qua ánh mắt nhìn nhau. Cảm xúc ấy đã ghim chặt trong lòng tác giả, thế nên:

    Hòa bình tôi trở về đây

    Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày

    Lại gặp em

    Thẹn thùng nép sau cánh cửa

    Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ

    Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)

    Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi

    Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng

    Cô bé nhà bên đã gắn bó với tác giả từ những ngày tháng tuổi thơ. Đến khi trưởng thành, hòa bình lập lại, cô bé ấy vẫn giữ một vị trí trong lòng tác giả. Cô bé ấy là đại diện cho quê hương, cho những kỷ niệm đẹp đẽ. Hình ảnh “thẹn thùng nép sau cánh cửa” của cô bé sao mà thân thương đến lạ. Đó như một cảm xúc e ấp của một cô thiếu nữ đôi mươi. Trong mắt của tác giả, cô bé nhà bên ấy vẫn mang điệu cười khúc khích của tuổi thơ. Nó càng làm cho hình ảnh quê hương thêm sâu đậm, ý nghĩa. 

    Thế rồi, tác giả chẳng ngại ngần bày tỏ tình cảm với cô bé ấy. Có lẽ tình cảm đó đã được Giang Nam giấu kín từ những ngày tuổi thơ, khi mẹ đánh đòn bị cô bé ấy bắt gặp. Tác giả đã chủ động “nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn” để giải bày tâm sự. Và cô bé ấy, có lẽ sâu trong lòng cũng đã gắn bó thân thiết với tác giả rồi, thế nên “em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng”. Đây là sự phát triển vượt bậc trong tình cảm của đôi nam thanh nữ tú ấy. Đó không chỉ là tình cảm đơn thuần, đó còn là tình yêu của những con người cùng chung chí hướng, cùng mong muốn mang đến những điều tốt đẹp cho quê hương. 

    • Luận điểm 3: Sự đau xót đến tột cùng khi người yêu thương nhất hy sinh

    Tình cảm mới chớm nở của đôi trai gái ấy lại bỗng hóa thành những điều đau đớn, xót xa. Vì chiến tranh, vì bom đạn, cô gái nhỏ của tác giả đã hy sinh.

    Hôm nay nhận được tin em

    Không tin được dù đó là sự thật

    Giặc bắn em rồi, quăng mất xác

    Chỉ vì em là du kích em ơi!

    Đau xé lòng tôi, chết nửa con người

    Sự hy sinh của em gái hàng xóm là một cú sốc với tác giả. Dường như tác giả không tin vào mắt mình. Nỗi đau ấy đã quá sức chịu đựng của con người, không một lời nào có thể diễn tả nổi. Đau đớn hơn khi em hy sinh còn bị “quăng mất xác”. Đó là nỗi đau chất chứa không thể nào nguôi ngoài. “Chỉ vì em là du kích em ơi” dường như ẩn chứa bao điều. Nó không chỉ là nỗi đau xé lòng, nó còn như lời than trách cuộc đời. Vì chiến tranh, và vì em là du kích nên mới xảy ra cớ sự như vậy. Nỗi đau ấy làm tác giả “chết nửa con người”. 

    Và từ khi “em” ra đi, quê hương không còn những điều vui vẻ, lạ thường nữa. Trước kia, tác giả yêu quê hương vì những điều thân thuộc, vì thiên nhiên mênh mang có chim, có bướm và có cả đòn roi của mẹ. Nhưng nay, tác giả yêu quê hương “vì trong từng nắm đất/ Có một phần xương thịt của em tôi”. Đó là tình yêu bao la trời bể, tình yêu ấy chất chứa kỷ niệm và hơn hết, quê hương ấy có “em” nằm đấy. 

    Lời kết

    Quê hương của Giang Nam mang đầy đủ nỗi niềm. Bằng việc sử dụng từ ngữ sinh động, nghệ thuật miêu tả tinh tế, tác giả đã mở ra bức tranh quê hương thật gần gũi, thân thuộc nhưng cũng thật day dứt. Phân tích bài thơ Quê hương của Giang Nam làm ta càng yêu hơn mảnh đất mình đang sống, trân quý những điều gọi là kỷ niệm. 

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn: Phân Tích Bài Thơ “Quê Hương”
  • Phân Tích Bài Thơ Quê Hương ( Tế Hanh )
  • “Bài Thơ Quê Hương”, Một Bài Thơ Ít Biết Của Nguyễn Bính – Nguyễn Đình Minh – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng
  • Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một ?
  • Soạn Bài: Quê Hương – Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Việt Nam Quê Hương Ta

    --- Bài mới hơn ---

  • Việt Nam Đất Nước Ta Ơi…
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Việt Nam Đất Nước Ta Ơi (Nguyễn Đình Thi)
  • Giá Trị Nội Dung Nghệ Thuật & Cảm Nhận Bài Thơ Tức Cảnh Pác Bó
  • Phân Tích Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá
  • Cảm Nhận Bài Thơ Quê Hương Của Nhà Thơ Tế Hanh
  • Việt Nam đất nước ta ơi

    Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

    Cánh cò bay lả rập rờn

    Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều

    Quê hương biết mấy thân yêu

    Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau

    Mặt người vất vả in sâu

    Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn

    Đất nghèo nuôi những anh hùng

    Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên

    Đạp quân thù xuống đất đen

    Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa

    Việt Nam đất nắng chan hoà

    Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanh

    Mắt đen cô gái long lanh

    Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung

    Đất trăm nghề của trăm vùng

    Khách phương xa tới lạ lùng tìm xem

    Tay người như có phép tiên

    Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ

    Nước bâng khuâng những chuyến đò

    Đêm đêm còn vọng câu hò Trương Chi

    Đói nghèo nên phải chia ly

    Xót xa lòng kẻ rời quê lên đường

    Ta đi ta nhớ núi rừng

    Ta đi ta nhớ dòng sông vỗ bờ

    Nhớ đồng ruộng, nhớ khoai ngô

    Bữa cơm rau muống quả cà giòn tan…

    I. Tìm Hiểu Về Nguyễn Đình Thi

    – Nhà thơ Nguyễn Đình Thi sinh ngày 20-12-1924 tại Thành phố Luông Pra Băng, nước Lào. Ông sống và làm việc chủ yếu ở Thành phố Hà Nội, nước Việt Nam. Ông sinh thuộc cung Nhân Mã, cầm tinh con (giáp) chuột (Giáp Tý 1924). Nguyễn Đình Thi xếp hạng nổi tiếng thứ 5042 trên thế giới và thứ 6 trong danh sách Nhà thơ nổi tiếng.

    – Nguyễn Đình Thi được xem là một nghệ sĩ đa tài, ông sáng tác nhạc, làm thơ, viết tiểu thuyết, kịch, tiểu luận phê bình. Ở lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp đáng trân trọng.

    – Thơ Nguyễn Đình Thi mang một diện mạo mới, độc đáo và hiện đại. Bài thơ được xem là tâm đắc nhất của của nhà thơ Nguyễn Đình Thi, đó là bài “Đất nước”, đây là một tác phẩm bất hủ của văn học. Sau này, bài thơ “Đất nước” đã được nhạc sỹ Đặng Hữu Phúc phổ thành bản Giao Hưởng – Hợp xướng cùng tên “Đất nước”.

    + Những bài thơ tiêu biểu của ông:

    – Người chiến sỹ (1958)

    – Bài thơ Hắc Hải (1958)

    – Dòng sông trong xanh (1974)

    – Tia nắng (1985)

    – Đất nước (1948 – 1955)

    – Nhớ

    – Lá đỏ

    – Những tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Đình Thi là sự phản ánh kịp thời cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta trong các cuộc kháng chiến. Các tác phẩm của ông đều mang tính thời sự về các cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam.

    – Tiểu thuyết được xem là thành công nhất trong lĩnh vực văn xuôi của Nguyễn Đình Thi là tác phẩm “Vỡ bờ”. Tác phẩm đã tái hiện bức tranh đa chiều của xã hội Việt Nam từ năm 1939 đến năm 1945.

    – Nhà thơ Nguyễn Đình Thi còn là một ngòi bút phê bình văn học sắc sảo. Tiểu luận “Nhận đường” của ông đã giúp thế hệ văn nghệ sĩ lúc bấy giờ tìm ra con đường đi đúng đắn

    II. Cảm Nghĩ Về Việt Nam Quê Hương Ta

    Việt Nam- Đất nước thân yêu của những người dân Việt Nam.Một đất nước đã trải qua hàng nghìn năm đấu tranh dành độc lập.Việt Nam anh dũng nhưng lại mang trong mình những vẻ đẹp tự nhiên.Một trong những vẻ đẹp ấy là vẻ đẹp bình dị Việt Nam được thể hiện qua hai khổ thơ đầu của bài thơ:”Việt Nam đất nước ta ơi!…” của nhà thơ Nguyễn Đình Thi.

    Mở đầu bài thơ, nhà thơ đã phác họa nên bức tranh thiên nhiên tươi đẹp của VN:

    “Việt Nam đất nước ta ơi!

    Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

    Cánh cò bay lả rập rờn

    Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều”

    Nhà thơ đã coi VN là một người bạn thân từ rất lâu:”VN đất nước ta ơi!”.VN như một người bạn thân thiết dã rất thân thuọc và gần gũi không chỉ với tác giả mà cả chúng ta. Từng lời thơ vang lên mộc mạc như hiện lên trước mắt người đọc một làng quê thanh bình, yên ả nhưng không hoang vu, heo hút mà nơi đấy lại ấm áp. Những cánh đồng mênh mông tưởng chừng như vô tận đang dần hiện ra trước mắt người đọc. Những biển lua mênh mông, bát ngát và xanh mát, mang theo hương thơm dịu nhẹ của cánh đồng VN khiến ai đã từng chứng kiến đều muốn quay lại, nhất là khi lúa chín.

    Những bông lúa chín vàng treo lủng lẳng, những hạt lúa vang ươm chắc nịnh theo gió bay xa manh theo bao hạnh phúc về một vụ mùa bội thu. Chiều chiều, từng đàn cò trắng rập rờn cánh bay trở thành những câu hát quên thuộc của đồng quê:”Con cò là cò bay lả,lả bay la. Bay từ là từ ruộng lúa,bay ra là ra cánh đồng.Tình tính tang là tang tính tình…”.Rồi cả dãy núi Trường Son sớm chiều may bay che phủ một làn sương trắng mỏng manh.

    Những cách đồng mênh mông, bát ngát; những cánh cò bay lả rập rờn và đỉnh Trường Sơn mây mờ che phủ như đã được thổi hồn vào làm cho những cảnh vật ấy có sức sống . Từ đó, khổ thơ đã làm nổi bật vẻ đẹp thanh bình, giản dị, mộc mạc của thiên nhiên VN , đồng thời thể hiện tình yêu những vẻ đẹp bình dị, dân dã dất nước của tác giả.

    Nếu khổ thơ thứ nhất là về thiên nhiên đất nước thì khổ thơ thứ hai lại nói về con người VN.

    (trích dẫn khổ 2:Quê hương bết mấy thân yêu…Chìm trong bể máu lại vùng đứng lên”

    Giặc kia dù mạnh thế nào, cao siêu bao nhiêu thì cũng sẽ chịu cúi đầu trước những con người dũng cảm mà thôi. Một dân tộc trước kia bị xem thường rồi cũng sẽ vươn lên.Con người việt nam là thế đấy, luôn cố gắng vươn lên, chiến thắng mội kẻ thù xâm lược, làm cho những đế quốc hùng mạnh rồi cũng bị tiieu diệt như bài Nam quốc sơn hà đã viết:

    ” Nam quốc sơn hà, Nam đế cư

    Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

    Từ hai khổ thơ đầu, nhả thơ đã ca ngợi vẻ đẹp giản dị, mộc mạc của thiên nhiên, con người VN,đồng thời nhà thơ cũng thể hiên tình yêu thương, sự gắn bó sâu sắc đối với quê hương đất nước.Qua đoạn thơ, ta càng cảm thấy yêu mến và trân trọng quê hương nhiều hơn.Đó cũng là một lời với mối người:”Bất kể ai đi xa cũng luôn hướng về quê hương thân yêu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ “quê Hương” Của Tế Hanh Lớp 8 Hay Nhất
  • Soạn Bài: Quê Hương (Tế Hanh)
  • Cảm Nhận Bức Tranh Làng Quê Qua Bài Thơ “quê Hương” Của Tế Hanh Tài Liệu Học Tập
  • Cảm Nhận Bức Tranh Làng Quê Qua Bài Thơ “quê Hương” Của Tế Hanh
  • Nêu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Quê Hương Của Nhà Thơ Tế Hanh
  • Top 10 , Nckhspud, Skkn, Diem Chuan Vao 10, Mmo, Crypto, Coin, Token, Stock, : Yêu Quê Hương Qua Từng Trang Sách Nhỏ: Giang Nam Với Bài Thơ Quê Hương

    --- Bài mới hơn ---

  • Hình Ảnh Người Dân Làng Chài Qua Bài Thơ Quê Hương Của Tế Hanh
  • Chứng Minh Rằng, Trong Bài Quê Hương, Tế Hanh Đã Miêu Tả Rất Tinh Tế Về Cảnh Quê Và Tình Quê. Tài Liệu Học Tập
  • Quê Hương Và Nỗi Nhớ Trong Thơ Bùi Đức Ánh
  • Phân Tích Bài Thơ Thu Hứng Của Đỗ Phủ Để Thấy Được Cảnh Sắc Mùa Thu Và Nỗi Nhớ Quê Hương
  • Phân Biệt Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản
  • – Bài thơ Quê hương nổi tiếng của Giang Nam từng được đưa vào sách giáo khoa và bao thế hệ học trò đã thuộc lòng từng câu, từng chữ…

    Ở đó, người đọc bị cuốn hút, ám ảnh bởi những tiếng cười khúc khích thật hồn nhiên để rồi bỗng thấy hụt hẫng khi nghe tin dữ…

    Có một thời, bạn đọc đón chờ những bài thơ từ chiến trường gửi ra của nhà thơ Giang Nam với một tâm lý đặc biệt. Họ muốn được neo lòng mình vào cuộc chiến đấu chung của đồng bào, chiến sĩ miền Nam, muốn được vui buồn, thổn thức với những mảng hiện thực mà tác giả nhanh nhạy ghi lại từ cuộc chiến khốc liệt, một cuộc chiến có thể làm những trái tim chai sạn cũng phải trào dâng niềm thương xót bởi có quá nhiều gương mặt phụ nữ và trẻ em…

    Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường

    Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ

    “Ai bảo chăn trâu là khổ?”

    Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao

    Chưa đánh roi nào đã khóc!

    Nhìn tôi cười khúc khích…

    Rồi kháng chiến trường kỳ

    Cô bé nhà bên (có ai ngờ)

    Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích

    Mắt đen tròn (thương quá đi thôi)

    Giữa cuộc hành quân không nói được một lời

    Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại

    Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi…

    Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày

    Thẹn thùng nép sau cánh cửa

    Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ

    Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)

    Tôi nắm bày tay nhỏ nhắn ngậm ngùi

    Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng

    Không tin được dù đó là sự thật

    Giặc bắn em rồi, quăng mất xác

    Chỉ vì em là du kích em ơi!

    Đau xé lòng tôi, chết nửa con người…

    Xưa quê hương vì có chim, có bướm

    Có những ngày trốn học bị đòn, roi

    Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

    Có một phần xương thịt của em tôi.

    Quê hương – Bài thơ làm trong một giờ.

    “Hồi đó, tôi giác ngộ cách mạng rất sớm, từ năm 20 tuổi, lại được người anh trai – nhà cách mạng Nguyễn Lưu- truyền cho bầu nhiệt huyết, nên luôn sôi sục ý chí chiến đấu và sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Có năng khiếu chữ nghĩa nên khi vào hoạt động cách mạng, tôi được giao nhiệm vụ tuyên huấn”- nhà thơ Giang Nam bồi hồi nhớ lại. Chính những ngày làm cán bộ dân chính, Giang Nam đã nảy nở tình yêu với bà Phạm Thị Chiều – người đã đi suốt cuộc hành trình của đời ông và cũng chính là nhân vật làm bật lên cảm xúc để ông viết bài thơ Quê hương . Thời khắc nghiệt của chiến tranh, tình yêu bung nở một cách giản dị nhưng có sức gắn kết bền chặt đến phi thường. “Cùng làm ở cơ quan dân chính Phú Khánh, hồi đó tôi rất thích vợ tôi nhưng xung quanh cô ấy lại có rất nhiều người theo đuổi, nên tôi chỉ còn cách mỗi lần đến đưa công văn, gửi kèm cho cô ấy một lá thư chứ không dám đến hỏi thêm gì. Viết thư cũng chỉ dám hỏi mấy câu đơn giản như; anh có ý thích em, em nghĩ thế nào?”. Sau lá thứ hai, Giang Nam bồn chồn chờ đợi suốt cả tuần lễ, cuối cùng cũng nhận được hồi âm… Từ đó, họ bắt đầu một tình yêu và không lâu sau thì làm đám cưới (vào đầu năm 1955).

    Cưới xong ở với nhau được đúng hai đêm, ông lại phải nhận nhiệm vụ mới ở Bình Định. Đây cũng là cái mốc đánh dấu cho những chuỗi ngày xa nhau đằng đẵng của ông bà. Ông miệt mài với công việc tổ chức giao, âm thầm tham gia tờ báo hợp pháp với tên gọi Gió mới, hoạt động công khai tại nội thành Nha Trang. Khi Mỹ nguỵ tiến hành các đợt “tố cộng”, “diệt cộng”, cán bộ đảng viên ở miền Nam phải tổ chức đổi vùng để tránh bị lộ. Tổ chức đã sắp xếp để ông bà chuyển vùng hoạt động về Biên Hoà. “Lần đoàn tụ này, chúng tôi vô cùng xúc động nhưng vẫn phải giữ bí mật tuyệt đối cho cách mạng. Cũng tại Biên Hòa, vợ tôi sinh hạ đứa con gái đầu tiên và cũng là duy nhất cho đến giờ, ngay sau khi vợ sinh, tôi được tổ chức rút về lại KhánhHoà. Sau đó không lâu, vào một buổi tối giữa năm 1960, giữa lúc trời mưa tầm tã, tôi được cấp trên gọi lên trấn an tư tưởng, thăm hỏi động viên rồi thông báo tin chẳng lành, có thể vợ và con gái tôi đã bị địch giết hại trong nhà tù tại Phú Lợi (Bình Dương). Đau đớn đến bàng hoàng, sự thương cảm xót xa cứ thế trào lên. Tất cả những kỷ niệm cũ, tình yêu nghẹn ngào, những giận hờn và buổi chia tay đầy nước mắt như sống dậy xót xa, nhức nhối, tôi đã phải bật khóc nức nở và chỉ trong một giờ đồng hồ, tôi đã viết xong bài thơ Quê hương . Viết liền mạch, không tẩy xóa, không thay đổi” – Giang Nam bộc bạch sự ra đời của bài thơ Quê hương .

    Dù những ngày tháng đau khổ đã đi qua, rất lâu, nhưng mỗi lần nhắc đến những mất mát hy sinh, từ phía sau cặp kính cận, khuôn mặt Giang Nam vẫn như nặng trĩu nỗi ưu tư. Những kỷ niệm chiến trường găm sâu trong ký ức lại trỗi dậy. Ông thổ lộ rằng: “Với tôi, đau thương cũng là một sức mạnh. Sau khi làm xong bài Quê hương , tôi đưa cho cấp trên đọc, ngay lập tức nhận được sự đồng cảm. Rồi sau đó ít ngày, tôi gửi bài thơ ấy cho báo Thống Nhất ở Hà Nội. Tháng 9.1961, đang trên đường công tác ở huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), tôi bất chợt nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc bài thơ Quê hương của mình và thông báo được giải Nhì báo Văn Nghệ.

    Trong giây phút vui mừng đó, tất cả hình ảnh người vợ thân yêu cùng đứa con nhỏ của mình lại ùa về. Một lần nữa tôi bật khóc. Có lẽ mỗi câu thơ trong bài Quê hương đều hàm chứa hình ảnh người vợ của tôi. Cũng từ đó, tôi lao vào làm thơ phục vụ cách mạng, làm báo tuyên truyền, cổ vũ đồng chí của mình như một nhiệm vụ cao cả” – Nhà thơ Giang Nam bồi hồi kể lại. Ngày nhận thư của nhà thơ Hoàng Trung Thông mời ra Ha Nội nhận giải, Giang Nam đau đáu trong lòng một suy nghĩ: Phải chăng những tình cảm tha thiết, chân thành, xót xa đã giúp người ta có những câu thơ hay. Cũng từ đó, ông luôn nuôi cho mình một ý thức viết một cách chân thành và tha thiết nhất. Đúng vào ngày nhận giải, nhà thơ Chế Lan Viên đã gọi Giang Nam lại và nhận xét rằng: “Cả bài thơ Quê hương của Giang Nam và Núi đôi của Vũ Cao đều nói về sự hy sinh của người con gái, của tình yêu và nỗi cách xa. Nhưng, bài Quê hương của Giang Nam đau quá! Tuy bài thơ được giải Nhì nhưng sẽ có sức sống vượt thời gian”. Sau khi bài thơ Quê hương được công bố, rất nhiều cuộc mít tinh chớp nhoáng đã lấy bài thơ này ra đọc lên như một sự cổ vũ. “Lúc đó, tôi vô cùng sung sướng, thấy mình như được tiếp thêm niềm đam mê, viết không ngưng nghỉ” – Giang Nam cho biết.

    Cuộc sống luôn hàm chứa những bất ngờ, cứ đinh ninh vợ con đã bị địch giết chết nhưng giữa năm 1962, bà Chiều và con gái bất ngờ được thả về, do địch không tìm ra căn cứ kết tội. Nỗi vui mừng chưa được bao lâu, năm 1968, vợ Giang Nam lại bị địch bắt lần thứ hai cho đến mãi năm 1973 mới được thả, nhờ một luật sư giỏi bào chữa. Nhớ lại thời kỳ này, giọng ông lại nấc lên: “Suốt hai lần vào tù, ra tội, những ngày dài sống đằng đẵng trong xà lim, đứa con gái duy nhất của tôi vẫn phải bám sát lấy mẹ. Ai có tách ra nó cũng không chịu. Có những ngày bị lạnh tím tái, tưởng chừng như đã ra đi. Có lúc sợ nó nhớ tôi, vợ tôi đã trùm chiếc áo cũ tôi lên người nó. ‘Tận khổ cam lai’, giờ vợ và con tôi vẫn khỏe mạnh. Sau ngày giải phóng, tôi có đi tìm lại người luật sư bào chữa cho vợ tôi để cảm ơn nhưng không gặp”.

    Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1976, theo điều động của tổ chức, Giang Nam vào làm việc tại TP Hồ Chí Minh. Năm 1978, chấp hành ý kiến của cấp trên, ông ra Hà Nội làm Thường trực Hội Nhà văn VN. Năm1989 (tách tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa), Tỉnh ủy Khánh Hòa xin ông về làm phó chủ tịch UBND tỉnh – Phụ trách văn xã. Cứ tưởng rằng bước vào đường quan, cảm xúc thơ của ông sẽ giảm đi nhưng đúng như ông nói: “Có về nơi cuối trời vẫn đau đáu với quê hương, với thơ ca. Được làm việc trên quê hương của mình, được phục vụ nhân dân, lại được nhiều người quý trọng và nhớ đến bài thơ Quê hương nổi tiếng nên tôi vẫn miệt mài viết, viết cho đến hơi thở cuối cùng mới thôi”.

    Chính trong thời gian làm phó chủ tịch tỉnh, có dịp tiếp cận nhiều hơn với người dân cũng như muôn mặt của cuộc sống nên ông đã cho ra đời trường ca Sông Dinh mùa trăng khuyết . Vì cái đam mê viết nên hiện nay, dù tuổi đã cao, ông vẫn làm đại diện báo Văn Nghệ tại Khánh Hòa.

    Nhà thơ Giang Nam: Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ

    Có một thời, bạn đọc đón chờ những bài thơ từ chiến trường gửi ra của nhà thơ Giang Nam với một tâm lý đặc biệt. Họ muốn được neo lòng mình vào cuộc chiến đấu chung của đồng bào, chiến sĩ miền Nam, muốn được vui buồn, thổn thức với những mảng hiện thực mà tác giả nhanh nhạy ghi lại từ cuộc chiến khốc liệt, một cuộc chiến có thể làm những trái tim chai sạn cũng phải trào dâng niềm thương xót bởi có quá nhiều gương mặt phụ nữ và trẻ em…

    Nhà thơ Thế Lữ, một người vốn đã ngừng làm thơ từ lâu, trong một lần nghe thơ Giang Nam qua làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam cũng đã phải nghẹn ngào nhắn gửi: ” Cất cao lời nữa/ Giang Nam ơi/ Tiếng thơ anh trào nước mắt tôi”. Quả thực, có một thời, thơ Giang Nam đã thành “một kênh cảm xúc chủ yếu nối tình cảm đồng bào Nam Bắc” – như nhà thơ Vũ Quần Phương từng nhận xét.

    Đọc thơ Giang Nam những năm chiến tranh, ta thấy các nhân vật chính thường là trẻ em và phụ nữ. Có lẽ, với tác giả, đây là điểm “nhấn” để phơi lộ sự vô nhân đạo của kẻ thù cũng như cho thấy nét đẹp của cuộc kháng chiến toàn dân. Bài thơ “Lá thư thành phố” làm lời người vợ gửi cho chồng ở miền Đông đất đỏ có những câu nghe thật “thương thân tủi phận”: ” Con nhớ anh thường đêm biếng ngủ/ Nó khóc làm em cũng khóc theo/ Anh gửi về em manh áo cũ/ Đắp cho con đỡ nhớ anh nhiều“. Tủi phận nhưng vẫn cho thấy cái tế nhị của người phụ nữ Việt Nam, dẫu nhớ chồng đến đâu vẫn phải mượn con để gửi gắm tình ý của mình. Cũng vậy, nhớ chồng, muốn lên với chồng mà phải nói vòng vo qua chuyện cái kim sợi chỉ: ” Em biết anh không ngừng chiến đấu/ Muôn ngàn anh, chị ở bên anh/ Bao giờ em được lên trên ấy/ Vá áo cho anh, rách lại lành!”.

    Chị ngồi trước tờ giấy trắng

    Hàng giờ không viết một câu

    Bóng cây ngắn dần theo nắng

    Đàn trâu chậm chạp qua cầu.

    Mái tôn nóng bừng ngột ngạt

    Trán con lấm tấm mồ hôi

    Cổng đồn mấy tên lính gác

    Đứng im như chết lâu rồi.

    Dường như với Giang Nam, ở đâu có mẹ là ở đấy có con. Hai mẹ con luôn quấn quýt, no đói có nhau. Và có con là thêm lần thử thách sự vững vàng của người mẹ. Trong trường hợp này cũng vậy, hành động vô tình của đứa bé đã đánh thức một hướng suy nghĩ trong người mẹ: ” Con bé nhay nhay vú mẹ/ Bàn tay nhỏ xíu mân mê/ Chúm chím môi hồng nở hé/ Chói chang nắng lửa trưa hè“.

    Người phụ nữ thấy day dứt. Ai nỡ để đứa con bé bỏng, đáng yêu nhường ấy phải chịu hệ lụy bởi sự cương cường của người lớn. Nhưng trong tình thế oái oăm, là phụ nữ, chị biết làm gì để bảo vệ con ngoài những giọt nước mắt: ” Có gì cay cay trong mắt/ Có gì mằn mặn trên môi/ Không, không thể là nước mắt/ Cắn răng quyết giữ cuộc đời “.

    Đang khi người phụ nữ chuẩn bị có một hành động dứt khoát thì những kỷ niệm xưa cũ hiện về trong tâm trí chị: ” Vụt hiện những ngày kháng chiến/ Giành từng góc ruộng bờ ao/ Vụt hiện những ngày trên bến/ Vẫy khăn anh bước xuống tàu“. Đến đây, mạch thơ có sự chuyển đổi. Câu thơ 6 chữ với nhịp thơ mạnh mẽ, dứt khoát đã được tác giả cho chuyển sang 7 chữ, rồi thu về 6 chữ, rồi bung ra tới 8 chữ để phản ảnh tâm trạng rối bời, đan xen giữa tình chung ý riêng, nỗi thương gần và nỗi lo xa, vừa không muốn làm tổn thương tình cảm với chồng, với kháng chiến, vừa muốn đứa con bé bỏng không rơi vào vòng khổ ải. Nhưng rồi, chị giật mình như “nghe thấy” sự không đồng tình từ cô con gái: ” Đôi mắt con như hờn dỗi nghẹn ngào/ Con không nói nhưng chị nghe tiếng nói/ Có thể nào như thế được mẹ ơi” và cả từ người chồng trước hành động “phản tỉnh” của mình: “Thoáng bóng ai về bên cạnh chị/ Màu áo quen quen, mắt sáng ngời/ Da sém nắng, mặt buồn nghiêm nghị/ Có thể nào như thế được em ơi“.

    Lũ quỉ ập vào dí súng bên hông

    Chị vẫn ngồi nghiêm trước trang giấy trắng.

    Đọc bài thơ, không ai là không nhớ tới tiếng cười khúc khích của cô gái, cũng như khó có thể quên được cái việc… khóc của cậu bé ở phần mở đầu bài thơ ( Những ngày trốn học/ Đuổi bướm cầu ao/ Mẹ bắt được…/ Chưa đánh roi nào đã khóc!/ Có cô bé nhà bên/ Nhìn tôi cười khúc khích…). Đó chính là mấu chốt tạo nên sức ám ảnh của hình tượng, và là cái cớ để triển khai tứ thơ. Về đoạn thơ này, Hoài Thanh đã có lời bình rất tinh tế: “Khóc vì sợ đánh nhưng lại cũng vì muốn đánh vào tấm lòng của mẹ thương con mà người con rất biết”.

    Sinh thời, nhà phê bình Hoài Thanh mặc dù thừa nhận Giang Nam có những bài thơ hay, song cũng phải nghiêm khắc nhắc nhở, là “ngòi bút của Giang Nam có khi quá dễ dãi”. Ở đoạn kết bài “Quê hương”, Giang Nam từng viết: ” Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/ Có một phần xương thịt của em tôi“, hai chữ “xương thịt” đặt ở đây có thể không khiến bạn đọc “gai gợn” bởi dẫu sao trước đó, nhà thơ đã làm ta xúc động trước cái chết của người nữ du kích không biết địch vất xác nơi đâu, nên cái cảm giác ” trong từng nắm đất/ có một phần xương thịt của em tôi” là xuất phát từ đời thực, tuy nhiên, cũng hai chữ ấy mà nhà thơ đưa vào đoạn thơ sau (bài “Gửi miền Bắc”) thì quả thực là không ổn, rất không ổn:

    Hà Nội ơi, máu về tụ giữa tim

    Tóc Bác có bạc nhiều những đêm không ngủ?

    Giặc Mỹ liệu hồn: thịt xương ta đó.

    Ưu điểm của thơ Giang Nam là có tình. Song ngoài tình thì thơ còn là nghệ thuật ngôn từ. Việc tác giả dùng từ ngữ thiếu chọn lọc trong một số trường hợp đã gây bất lợi cho việc thể hiện tình cảm của ông…

    Quê hương và nhà thơ Giang Nam

    Bài thơ Quê hương nổi tiếng của Giang Nam từng được đưa vào sách giáo khoa và bao thế hệ học trò đã thuộc lòng từng câu, từng chữ…

    Ở đó, người đọc bị cuốn hút, ám ảnh bởi những tiếng cười khúc khích thật hồn nhiên để rồi bỗng thấy hụt hẫng khi nghe tin dữ…

    Ở phần mở đầu bài thơ: Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường/Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ/”Ai bảo chăn trâu là khổ?”/Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao…, có lẽ lúc hoài niệm về thời thơ ấu, trong ký ức của tác giả đã hiện lên thấp thoáng những câu hát của… Phạm Duy: Ai bảo chăn trâu là khổ?Chăn trâu sướng lắm chứ!Ngồi mình trâu phất ngọn cờ lau và miệng hát nghêu ngao… (Em bé quê). Bởi nếu không thì tác giả đã không để câu Ai bảo chăn trâu là khổ trong ngoặc kép. Tuy nhiên, dẫu có như vậy thì câu này cũng liền mạch với một tứ thơ hết sức trong trẻo, hồn nhiên: … Những ngày trốn học/Đuổi bướm cầu ao/Mẹ bắt được/Chưa đánh roi nào đã khóc!/Có cô bé nhà bên/Nhìn tôi cười khúc khích… Một điều chắc chắn rằng, sở dĩ bài thơ có sức hấp dẫn người đọc là bởi tuy tác giả sử dụng những câu chữ mộc mạc nhưng lại khéo dụng công ở những lần “cô bé nhà bên cười khúc khích”, tạo nên một ấn tượng khó quên…

    “Cô bé” ấy là ai?

    “Cô bé” ấy tên thật là Phạm Thị Triều, sinh ra trong một gia đình có nghề làm mắm gia truyền ở Vĩnh Trường (Nha Trang). Nghề làm mắm cũng là để đóng góp kinh tài cho cách mạng. Cô bé Triều mới “trổ mã” đã theo chị gái lên căn cứ Đồng Bò. Gia đình thấy Triều còn nhỏ quá, cho người nhắn về nhưng cô nhất quyết không về. Khi mặt trận Nha Trang vỡ, Triều được điều về làm ở khối Dân chính của Tỉnh ủy Phú Khánh, đóng ở Đá Bàn. Chính nơi đây, cô đã gặp chàng trai sau này trở thành nhà thơ Giang Nam…

    Còn anh chàng Nguyễn Sung (tên thật của Giang Nam), mới 16 tuổi đã bỏ học giữa chừng vì nhà trường đóng cửa do thời cuộc (Nhật đảo chính Pháp tháng 8.1945). Cậu theo anh trai là nhà cách mạng Nguyễn Lưu tham gia Việt Minh ở mặt trận Phú Khánh. Khoảng đầu năm 1954, Nguyễn Sung được điều về căn cứ Đá Bàn và anh bộ đội trẻ đã “ngẩn ngơ” trong lần đầu gặp Phạm Thị Triều.

    Ít lâu sau anh biết thêm rằng không phải chỉ mình anh mà cả đám lính trẻ cũng thường tìm cớ này, cớ nọ để tạt vào cơ quan chỉ để… nhìn cô Triều một cái. “Bạo phổi” lắm thì cũng chỉ nói vu vơ một câu rồi… biến! Chuyện yêu đương, trai gái trong cùng tổ chức hồi ấy hầu như bị cấm nghiêm ngặt. Tuy nhiên, là một anh lính có “chút thơ văn” nên Nguyễn Sung vẫn nghĩ được cách tiếp cận người đẹp. Trước tiên, anh vận dụng khả năng thơ văn của mình để được giao nhiệm vụ chạy công văn. Và thế là mỗi lần đưa công văn đến cơ quan, anh lại kèm theo một lá thư (viết sẵn) cho nàng mà không nói năng, hỏi han gì thêm vì sợ lộ. Phải hơn một tuần sau lá thư thứ hai, anh mới “sướng rêm người” khi được nàng “ừ” (trong bức thư hồi âm)…

    Yêu nhau “kín đáo” như thế mà vẫn không giấu được ai, may mà cả anh lẫn chị đều được anh em thương mến nên trước ngày anh ra Bình Định tham gia Đoàn Sĩ quan liên bộ đình chiến, chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định Genève, cơ quan đã tổ chức đám cưới cho họ. Sống với nhau được hai đêm thì anh lên đường, còn chị trở lại Nha Trang… Từ buổi đó, đôi vợ chồng trẻ phải luôn chịu cảnh xa cách, gian truân…

    Sau Hiệp định Genève (tháng 7.1954), Nguyễn Sung vào hoạt động trong lòng địch, trong vai trò công nhân ở một xưởng cưa và âm thầm viết cho tờ Gió mới – là tờ báo hợp pháp ở Nha Trang. Tuy hoạt động cùng địa bàn nhưng đôi vợ chồng son vẫn không thể gặp nhau vì khác tuyến, phải tuân giữ kỷ luật khắt khe để không bị lộ… Mãi đến năm 1958, tổ chức chuyển vùng công tác cho họ vào Biên Hòa thì họ mới thật sự có những ngày hạnh phúc bên nhau, dù khoảng thời gian này cũng rất ngắn ngủi. Họ thuê một căn nhà nhỏ trong xóm lao động nghèo. Ông làm mướn cho một nhà thầu khoán, còn bà buôn bán lặt vặt…

    Một thời gian sau, tổ chức lại rút ông về lại Khánh Hòa, bà Triều ở lại một mình nuôi con. Mỗi đêm, nghe con gái khóc ngằn ngặt vì nhớ cha, bà Triều phải lấy chiếc áo cũ của chồng đắp lên người con để “có hơi của ông ấy cho nó nín khóc”. Sau này, ông đã mượn lời vợ, và mượn luôn sự cố khóc đêm của con để bày tỏ nỗi nhớ thương: Con nhớ anh thường đêm biếng ngủ/Nó khóc làm em cũng khóc theo/Anh gởi về em manh áo cũ/Đắp cho con đỡ nhớ anh nhiều… (Lá thư thành phố).

    Quê hương ra đời trong hoàn cảnh nào?

    Trong hồi ký Sống và viết ở chiến trường, Giang Nam đã kể lại như sau: “Bài thơ Quê hương ra đời năm 1960, dưới chân núi Hòn Dù, cách chúng tôi Trang hơn 40 cây số về phía tây. Lúc ấy, tôi đang là Phó ban Tuyên huấn của Tỉnh ủy Khánh Hòa. Chiều hôm ấy, anh Phó bí thư Tỉnh ủy đã gọi tôi lên chỗ anh ở (một căn chòi nhỏ giữa rừng). Anh ân cần hỏi thăm tôi về tình hình công tác, sức khỏe… Tôi linh cảm thấy có điều gì không bình thường. Quả nhiên sau đó, anh nói thật: Tin của cơ sở trong thành vừa báo cho biết vợ và con gái tôi bị địch bắt trước đó hơn một năm đã bị chúng thủ tiêu… Tôi bàng hoàng, trời đất như sập xuống đầu mình… Trong nỗi đau đớn tột cùng, tôi ngồi trong căn chòi nhỏ, trước mắt là ngọn đèn dầu lù mù được che kín ba mặt, tôi đã viết một mạch xong bài thơ, không xóa sửa chút nào… Không phải tôi làm thơ mà là ghi lại những ký ức, những hình ảnh đã trở thành máu thịt trong tôi. Từng đoạn nước mắt tôi trào ra, nhất là ở hai câu cuối của bài: Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/Có một phần xương thịt của em tôi”.

    Bài thơ được ký tên Giang Nam, bởi dạo còn đi học ông rất thích những câu thơ của Hồ Dzếnh: Tô Châu lớp lớp phủ kiều/Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam… Sau đó, ông gửi bài thơ theo đường giao liên cho Báo Thống Nhất (Hà Nội), vì chỉ có tờ báo này được chuyển vào chiến trường phía Nam. Khoảng tháng 8.1961, trên đường công tác qua huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), qua chiếc radio, ông nghe Đài phát thanh Việt Nam đọc bài thơ Quê hương và thông báo bài thơ này đoạt giải nhì của Báo Văn nghệ. Trong giây phút vui mừng đó, hình ảnh thân yêu của vợ con ông lại ùa về, ông bật khóc…

    Đinh ninh là vợ con mình đã chết, Giang Nam lao vào công tác, nhất là trên mặt trận văn hóa. Bỗng giữa năm 1962, vợ con ông được thả về vì địch không tìm được chứng cứ. Sum họp chưa được bao lâu, vợ ông lại bị bắt lần thứ hai (1968), đứa con gái cứ bám riết lấy mẹ nên cũng… bị tù. Mãi đến năm 1973 họ mới được trả tự do…

    Hiện nay, đôi “bách niên – đồng chí” đều đã qua ngưỡng tuổi 80, họ vẫn hạnh phúc bên nhau trong căn nhà số 46 đường Yersin (TP.Nha Trang).

    Sự nghiệp văn học, chính trị của ông người ta đã viết nhiều, viết chán. Nhưng, còn một điều, bao lần gặp gỡ ông vẫn khiến tôi khâm phục, ngưỡng mộ đó là mối tình chung thủy vượt muôn ngàn gian khổ của ông.

    Mối tình ấy đã giúp ông có sức mạnh chống chọi những làn bom, mối tình ấy cũng giúp ông bung bật cảm xúc làm nên bài thơ “Quê hương” trong hơn một tiếng đồng hồ, mối tình ấy cũng tiếp cho ông sức mạnh giữ được thanh liêm trong nhiều năm làm Phó chủ tịch tỉnh Khánh Hòa.

    Suốt cuộc đời ông chỉ yêu duy nhất một người, ở tuổi 83 nhưng lúc nào ông luôn gọi vợ bằng những từ ngọt ngào: em yêu, em thương… giống ngày son trẻ.

    “Tình yêu gắn lý tưởng có sức manh ghê gớm lắm”

    Ân cần, mến khách, ông bao năm vẫn thế. Vừa thấy tôi quàng áo mưa đến cổng, ông đã gọi vợ: “Em yêu ơi, pha cho anh ấm trà gừng, khổ quá, trời mưa suốt à”. Nhìn đống bản thảo của ông, tôi biết, ông vẫn luyện trí minh mẫn cho mình bằng cách đánh vật với chữ nghĩa, những hội thảo, những trang hồi ký viết dở và… tập dưỡng sinh, làm thơ tình tặng riêng cho vợ.

    Với ông, cách rèn luyện này đã mang lại cuộc sống thường ngày thư thái hơn. Biết sức khỏe ông đã yếu, tôi chỉ xin tiếp xúc một cuộc thoại ngắn xung quanh mối tình đầy cảm động của ông với bà Phạm Thị Triều.

    Vầng trán đã xô dày nếp nhăn, nhíu mày mãi, ông kể: “Hồi đó, tôi giác ngộ cách mạng rất sớm, từ năm 20 tuổi, lại được người anh trai – Nhà cách mạng Nguyễn Lưu truyền cho bầu nhiệt huyết nên luôn sôi sục ý chí chiến đấu và sẵn sàng nhận nhiệm vụ.

    Có năng khiếu chữ nghĩa nên khi vào hoạt động cách mạng, tôi được giao nhiệm vụ tuyên huấn. Cũng từ những ngày làm tuyên huấn đó, tôi đã quen và thầm thương, trộm nhớ bà Phạm Thị Triều”. Chiến tranh khắc nghiệt nhưng tình yêu bung nở một cách giản dị và có sức gắn kết bền chặt đến phi thường.

    “Cùng làm ở cơ quan dân chính Phú Khánh, hồi đó, tôi rất thích vợ tôi, nhưng xung quanh cô ấy lại có rất nhiều người theo đuổi nên chỉ còn cách mỗi lần đến đưa công văn, gửi cho cô ấy một lá thư chứ không dám đến hỏi thêm gì.

    Viết thư cũng chỉ dám hỏi mấy câu đơn giản như: anh có ý thích em, nhiều đêm anh hay nhớ em, em nghĩ thế nào?. Nhớ nhất là trong một lần, mới quen nhau thôi nhưng nhớ đến day dứt, tôi thức trắng đêm và viết cho Triều một lá thư, để dưới đáy sắp công văn. Chẳng biết Triều có nhận được không nhưng về nhà, lòng lúc nào cũng bồn chồn không yên”.

    Con tim dường như có lý lẽ riêng, cũng từ đó Giang Nam quyết chí phải làm việc thật tốt để không phụ lòng cấp trên cũng vừa để lấy lòng bà Triều.

    “Mình nhà nghèo mà, lại là anh lính quèn nữa, chỉ biết chút ít thơ ca thôi nên đôi lúc cũng tự ti lắm nhưng không thôi ý nghĩ nhớ đến Triều được. Tuy nhiên lý tưởng cách mạng luôn nung nấu trong tâm can tôi”- Giang Nam tâm sự.

    Sau những lá thư đầy thẹn thùng, e ấp, ngóng trông, sau bao bồn chồn chờ đợi suốt 2 tuần lễ, cuối cùng, Giang Nam cũng nhận được hồi âm: “Em cũng thích anh”. Từ đó họ bắt đầu một tình yêu chung thủy và tin tưởng đến kỳ lạ.

    Kỳ lạ đến nỗi, chính họ cũng không lý giải nổi. Vén những lọn tóc bạc, bà Triều ngồi trầm ngâm. Hình ảnh của bà gợi tôi nhớ những bà mẹ quê xưa, tần tảo, cam chịu, thủy chung, hy sinh, tháo vát. Nhấp một ngụm trà nóng, bà kể:

    “Tôi nhà cũng nghèo nhưng có truyền thống cách mạng lắm. Từ nhỏ đã khát khao được đi làm cách mạng rồi. Tôi mến và nhận lời yêu anh Nam cũng vì cái lý tưởng của anh ấy. Tình yêu gắn với lý tưởng thì có sức mạnh ghê gớm lắm.

    Với lại anh ấy cũng hiền lành, chăm chỉ. 16 tuổi, tôi đã hoạt động du kích ở căn cứ Đồng Bò, gia đình ngăn cấm, tôi cũng vẫn xin đi bằng được. Khi mặt trận Nha Trang bị quân địch càn quét mạnh quá, tôi lên Đá Bàn làm ở Văn phòng Tỉnh ủy.

    Lúc đó, anh Nam làm ở ty thông tin, sau này là báo Thắng nhưng mỗi lần gặp nhau, anh Nam vẫn kể về lý tưởng cách mạng của mình, tôi thích. Cả nhà anh ấy cũng đều theo cách mạng như nhà tôi nên thấy có nhiều điểm đồng cảm và cảm giác gần gũi lúc nào không hay”.

    Cùng ở khối cơ quan Quân Dân Chính Đảng, thường xuyên được giáp mặt nhau nhưng cũng chỉ dám liếc nhìn chứ không nói chuyện riêng được lâu. Vì cái thời đó, cách mạng là trên hết. Cho đến ngày, Giang Nam có tên trong danh sách đi chiến trường.

    Thấy tình cảm cao đẹp của hai người đã chín muồi nên tổ chức đã gọi Giang Nam đến và nói: “Nếu yêu rồi thì phải xác định gắn với cách mạng, tình yêu của người lính phải luôn cao cả”. Niềm vui như vỡ òa, Giang Nam về tất bật chuẩn bị và nhờ tổ chức đứng ra chủ trì cho hôn nhân của ông.

    Sau đêm tân hôn đúng 2 ngày (vào đầu năm 1955), Giang Nam phải nhận nhiệm vụ mới ở Bình Định. Đây cũng là cái mốc đánh dấu cho những chuỗi ngày xa nhau đằng đẵng của ông bà. Ông miệt mài với công việc tổ chức giao nhận các thư mật, âm thầm tham gia tờ báo hợp pháp với tên gọi “Gió mới” hoạt động công khai tại nội thành Nha Trang.

    Cảm xúc chủ đạo làm nên bài thơ “Quê Hương”

    Ngày chia tay, bà Triều tặng cho Giang Nam chiếc khăn tay và lá thư với lời nhắn nhủ ngắn gọn: “Hãy giữ gìn sức khỏe, tình yêu của em luôn trọn vẹn cho anh, mãi mãi là vậy và lớn thêm. Anh hãy sống cho lý tưởng cách mạng trước chứ đừng lo nghĩ cho em nhiều. Dù có bất cứ điều gì xảy ra, em cũng một lòng đợi anh, chung thủy với anh”.

    Lao vào hoạt động báo chí cách mạng, không quản ngày đêm, chính những lúc mệt mỏi ông lại đem lá thư của bà Triều ra đọc. Ông bảo: “Có lúc nhớ đến quay quắt, càng nhớ bao nhiều càng muốn đánh cho quân địch cút đi bấy nhiều. Chỉ có sạch bóng quân xâm lược thì tình yêu riêng tư mới trọn vẹn được.

    Có những đêm thức trắng làm báo cho kịp chuyển vào các mặt trận, tôi lại mang lá thư vừa là tình cảm vừa là sự động viên của Triều để đọc cho có thêm sức mạnh tinh thần. Có một người vợ như thế chẳng còn gì ngăn bước được tôi làm cách mạng cả.

    Có tuần tôi viết hàng chục bài thơ tuyên truyền kháng chiến, quân giặc điên tiết lùng sục nhưng vẫn không tài nào phát hiện được”. Mỗi lần có điều kiện, Giang Nam cũng chỉ ghi được mảnh giấy nhỏ gửi cho bà Triều để vơi bớt nỗi nhớ mong. Nhưng, thời “bom rơi đạn lạc” có lúc lời nhắn đến, có lúc mãi bặt tăm.

    Khi Mỹ – nguỵ tiến hành các đợt “tố cộng”, “diệt cộng” cán bộ Đảng viên ở miền Nam phải tổ chức đổi vùng để tránh bị lộ. Tổ chức đã sắp xếp để ông bà cùng chuyển vùng hoạt động về Biên Hoà.

    Cơn mưa Nha Trang đổ nặng hạt hơn, bà Triều đưa tay quẹt hai dòng nước mắt vừa trộm bò xuống. Kỷ niệm hóa thành nỗi niềm, bà rưng rưng: “Anh ạ, có người phụ nữ nào lại không thích gần chồng nhưng nếu vì tình yêu riêng này thì ích kỷ quá, phải không?.

    Bao đêm con khóc, nhớ chồng cũng chỉ biết đắp cái áo của anh Nam lên người con thôi. Nhà tôi đã có nhiều người theo cách mạng, thuộc diện phải ở nhà nhưng không được góp sức đánh giặc lòng tôi bứt rứt lắm”.

    Bao lần bị giặc bắt và tra khảo nhưng bà Triều vẫn cắn răng chịu đựng tuyệt đối không khai việc mình làm giao liên cho cách mạng. Đứa con là kết tinh tình yêu của ông bà cũng chịu không ít khổ ải.

    “Tôi luôn nghĩ chồng và con là tình yêu trọn vẹn nên dù địch bắt, tôi cũng bồng con theo”. Cuối năm 1959, không làm gì được bà Triều, địch bắt giam cả hai mẹ con vào phòng giam lạnh lẽo, đầy ẩm ướt.

    Bị địch biệt giam, vợ chồng mất liên lạc nhau, tổ chức cũng không liên lạc được, ông kể: “Một buổi tối giữa năm 1960, giữa lúc trời mưa tầm tã, tôi được cấp trên gọi lên trấn an tư tưởng, thăm hỏi động viên rồi thông báo tin chẳng lành có thể vợ và con gái tôi đã bị địch giết hại trong nhà tù tại Phú Lợi (Sài Gòn) vì chúng đang rất điên tiết vì những hoạt động bí mật của em Triều mà không bắt em khai ra được điều gì.

    Đau đớn đến bàng hoàng, sự thương cảm xót xa cứ thế trào lên. Tất cả những kỷ niệm cũ, tình yêu nghẹn ngào, những giận hờn và buổi chia tay đầy nước mắt như sống dậy xót xa, nhức nhối, cồn cào, buốt nhói, tôi đã phải bật khóc nức nở và gọi tên Triều cho đến lúc mệt lả.

    Cảm giác như mình vừa mất đi điều thiêng liêng, to lớn nhất. Và chỉ trong một giờ đồng hồ tôi đã viết xong bài thơ “Quê hương”. Viết liền mạch, không tẩy xóa, không thay đổi”- Giang Nam bồi hồi nhớ lại.

    Sinh ly tử biệt vẫn nguyên vẹn niềm tin

    Dù những ngày tháng đau khổ đã đi qua, rất lâu, nhưng, mỗi lần nhắc đến những mất mát hy sinh, khuôn mặt Giang Nam vẫn như nặng trĩu nỗi ưu tư. Những kỷ niệm chiến trường găm sâu trong ký ức lại đua nhau trỗi dậy.

    Ông thổ lộ rằng: “Với tôi, đau thương cũng là một sức mạnh. Sau khi làm xong bài “Quê hương”, tôi đưa cho cấp trên đọc, ngay lập tức, nhận được sự đồng cảm. Rồi, sau đó ít ngày, tôi gửi bài thơ ấy cho báo Thống Nhất (tiền thân của báo Văn Nghệ) ở Hà Nội.

    Tháng 9/1961, đang trên đường công tác ở huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), tôi bất chợt nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc bài thơ “Quê hương” của mình và thông báo được giải nhì báo Văn Nghệ. Trong giây phút vui mừng đó, tất cả hình ảnh người vợ thân yêu cùng đứa con nhỏ của mình lại ùa về.

    Một lần nữa, tôi bật khóc suốt cả buổi chiều. Mọi nỗi nhớ trỗi dậy quặn thắt. Có lẽ mỗi câu thơ trong bài “Quê hương” đều hàm chứa hình ảnh người vợ của tôi. Cũng từ đó, tôi lao vào làm thơ phục vụ cách mạng, làm báo tuyên truyền cổ vũ đồng chí của mình như một nhiệm vụ cao cả, chẳng có gì ngăn cản được tôi.

    Luôn nhủ với lòng mình nếu không chiến đấu đến cùng thì hổ thẹn với em Triều và con gái của mình quá. Những câu thơ như: “Giặc bắn em rồi quăng mất xác/ Chỉ vì em là du kích em ơi/ Đau xé lòng anh chết nửa con người…” viết về em Triều luôn canh cánh trong mỗi bước đường tôi đi”.

    Ngày nhận thư của nhà thơ Hoàng Trung Thông mời ra Hà Nội nhận giải, Giang Nam đau đáu trong mình một suy nghĩ: Phải chăng những tình cảm tha thiết, chân thành, xót xa đã giúp người ta có những câu thơ hay.

    Cũng từ đó, ông luôn nuôi cho mình một ý thức viết một cách chân thành và tha thiết nhất. Đúng vào ngày nhận giải, nhà thơ Chế Lan Viên đã gọi Giang Nam lại và nhận xét rằng: “Cả bài thơ “Quê hương” của Giang Nam và “Núi đôi” của Vũ Cao đều nói về sự hy sinh của người con gái, của tình yêu và nỗi cách xa. Nhưng, bài “Quê hương” của Giang Nam đau quá, quằn quại quá.

    Không có một tình yêu lớn thì không thể có được cảm xúc đó. Tuy bài thơ được giải nhì nhưng sẽ có sức sống vượt thời gian”. Sau khi bài thơ “Quê hương” được công bố, rất nhiều cuộc mít tinh chớp nhoáng đã lấy bài thơ này ra đọc lên như một sự cổ vũ. “Lúc đó, tôi vô cùng sung sướng, thấy mình như được tiếp thêm niềm đam mê, viết không ngưng nghỉ” – Giang Nam kể.

    Cuộc sống luôn hàm chứa nhiều điều bất ngờ. Sau khi bắt biệt giam gần 3 năm trời nhưng không tìm ra chứng cứ kết tội, lại được một luật sư bào chữa miễn phí nên quân địch bắt buộc phải thả bà Triều. Nhớ như in những ngày kham khổ đó, bà Triều vừa nấc nghẹn, vừa kể:

    “Chúng đã dùng đủ các loại hình tra tấn, cả vào đứa con nhỏ của tôi nhưng tôi quyết không khai. Lúc đó, có một ý nghĩ nếu khai là hèn, là có tội với tình yêu của anh Nam, dù đau đớn đến xé lòng khi nhìn đứa con thơ bị giặc hành hạ”.

    Khâm phục trước ý trí kiên cường của bà Triều, tổ chức đã sắp xếp cho ông bà gặp nhau. Đoàn tụ trong nước mắt, đêm đó họ thức trắng bên nhau. Nhưng cũng giống lần trước, bên nhau được mấy ngày, tổ chức lại điều Giang Nam lên Ban Tuyên huấn Khu đóng ở vùng giáp ranh hai tỉnh Đắk Lắk và Tuyên Đức.

    “Lần chia tay này, tôi chỉ còn được 37 kg, anh Nam cứ nhìn ái ngại nhưng tôi vẫn kiên quyết nói, nếu không tròn nhiệm vụ với cách mạng thì tôi càng đau khổ hơn. Thế là lại chia ly.

    Tổ chức cách mạng khuyên tôi nên ở nhà chăm con nhưng lý tưởng không cho phép nên sức khỏe bình phục, tôi lại hoạt động trở lại”. Về hoạt động căn cứ mới, nhiều người đã biết tiếng Giang Nam qua bài thơ “Quê hương” và muốn tiến đến với ông nhưng ông vẫn giữ trọn tình chung thủy với và Triều.

    Vì bị giặc theo dõi quá gắt gao nên hoạt động cách mạng lại chưa được bao lâu, năm 1968, vợ và con Giang Nam lại bị địch bắt lần thứ hai cho đến mãi năm 1973 mới được thả về cũng nhờ sự bào chữa của một luật sư.

    Nhắc đến thời kỳ này, giọng ông lại nấc lên: “Suốt 2 lần vào tù, ra tội, những ngày dài sống đằng đẵng trong xà lim, đứa con gái duy nhất của tôi vẫn phải bám sát lấy mẹ. Ai có tách ra nó cũng không chịu.

    Có những ngày bị lạnh tím tái tưởng chừng như đã ra đi. Có lúc nhớ tôi, vợ và con chỉ biết ôm nhau khóc. “Tận khổ cam lai”, may thay, giờ vợ và con tôi vẫn khỏe mạnh.

    Lần ra tù thứ hai cũng nhờ nhiều vào một người luật sự, họ bào chữa một cách vô tư. Lúc vợ đang trong tù chưa biết tin tức gì, nhiều người đã khuyên tôi nên lấy người khác nhưng tình yêu của tôi đã dành trọn cho em Triều từ lâu”.

    Ấm áp, bình dị tuổi xế chiều.

    Bây giờ sức khỏe của cả ông Nam, bà Triều như chuyến tàu đang trượt dần về ga cuối, nhưng họ vẫn hâm nóng hạnh phúc cho mình bằng những kỷ niệm về tình yêu duy nhất họ đã có với nhau.

    Bao năm sau ngày đất nước giải phóng, cuộc sống đẩy đưa, nhiều đổi thay, đôi lúc ông Nam vẫn đau đáu thế sự, đó là tâm thế của người quá yêu, quá trăn trở cuộc sống này. Những lúc như thế, bà Triều lại xoa dịu và thỏ thẻ vào tai ông: “Hãy bình tĩnh đi anh, cuộc đời mà”.

    Mỗi lần nhìn ông, từ tận sâu đáy mắt vẫn ừng ực nỗi quặn thắt. Có lần ông ôm ngực thốt ra: “Sao tình yêu bây giờ cũng giành giật, toan tính, cuộc sống cũng toan tính. Làm văn nghệ cũng toan tính, chỉ trực hưởng thụ.

    Tôi quan niệm làm văn nghệ, lãnh đạo văn nghệ là phải phát hiện ra cái mới, phải đi tìm, nuôi dưỡng và bảo vệ những người sáng tạo đích thực chứ không phải đến ngồi tán gẫu nhau cho sung sướng rồi hưởng lương, rồi đấu đá, thế thì buồn lắm…”.

    Dễ hiểu với nỗi thế sự của ông, tôi bảo: “Bây giờ hãy xem chuyện đó là một khía cạnh của cuộc sống, rồi sẽ có lúc điều chỉnh lại thôi”. Bà Triều tinh ý, chạy lại nắm chặt tay ông bảo: “Anh ơi, đừng giận, bệnh tim lại tái phát mất”. Những lúc thế này càng thấy cái hạnh phúc tuyệt diệu của “tình già”.

    Lớn tuổi thường luyến tiếc kỷ niệm, đôi khi lại thích ồn ào. Nhưng với bà Triều thì lúc nào cũng vậy, chầm chậm, xem mọi thứ như một lẽ thường tình phải xảy ra như thế. Đó là cái cách ứng xử của người đã nếm trải quá nhiều đau đớn của cuộc sống.

    Kéo tôi ra mái hiên trước nhà, bà tâm sự: “Cuộc sống luôn có biến đổi. Chỉ có tình cảm được vun đắp may ra mới bền lâu. Ông ấy mổ tim mấy lần rồi, một phần cũng vì nghĩ đến thế sự quá nhiều. Những lúc như thế tôi phải luôn bên cạnh để “dỗ ngọt” ông ấy đấy”.

    Sau giải phóng, có điều kiện, nhiều lần vợ chồng Giang Nam đã tìm người luật sư đã bào chữa miễn phí cho bà Triều để cảm ơn nhưng không gặp được.

    Quê hương của Giang Nam – Ngỡ mất vợ, có bài thơ hay da diết

    Năm 1960, trên chiến khu ở Khánh Hoà, Giang Nam nhận được tin dữ, đau xé lòng: Vợ anh (chị Phạm Thị Chiều) và con gái đầu lòng của anh chị mới hơn một tuổi (cháu Trang) đã bị Mỹ – nguỵ sát hại trong tù. Bài thơ Quê hương của Giang Nam ra đời trong hoàn cảnh ấy. Viết liền mạch. Đúng là tâm trạng: “Đau xé lòng anh, chết nửa con người!”. Viết xong, Giang Nam trình lên đồng chí Nguyễn Xuân Hữu (Bảy Hữu), Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hoà hồi đó, “xin ý kiến”. Anh Bảy trầm ngâm: “Hay lắm! Nhưng hơi buồn… Cậu ráng giữ tinh thần và ý chí tiến công. Hy sinh, mất mát là chuyện bình thường trong chiến tranh. Mình tin vào Giang Nam lắm đó!”. Bản thảo bài thơ theo đường giao liên Trường Sơn đi dần ra Bắc. Mãi 11 tháng sau, vào năm 1961, Giang Nam mới được đọc bài thơ Quê hương in trên báo Văn nghệ gửi từ Hà Nội vào. Tác giả nhận ngay được giải nhì về thơ. Bởi nó rất hay, hay đến thật lòng, hay da diết. Nhưng, số phận không chỉ mỉm cười riêng với thơ. Năm sau (1962), có ai ngờ, vợ con anh vẫn còn sống và thoát ra khỏi ngục tù của Mỹ – ngụy. Năm 1964, tổ chức bố trí cho chị Chiều và cháu Trang từ Sài Gòn – Chợ Lớn lên thăm anh ở căn cứ Trung ương Cục. Song, một lần nữa, thật nghiệt ngã, chị cùng con gái lại bị địch bắt bên dòng sông Vàm Cỏ Đông. Lần này, chị và cháu ở tù cùng với chị Châu (vợ anh Lê Hồng Tư, tức chị X. trong tác phẩm “Sống như anh” của Trần Đình Vân), chị Quyên (vợ liệt sĩ – Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi) và một số đồng chí nữ trung kiên khác. Hơn 10 năm sau, khoảng giữa năm 1973, anh chị và cháu gái mới lại được gặp nhau. Ngỡ không thể nhận ra được nhau nữa, ngay trên Củ Chi – đất thép Thành Đồng.

    Chiến tranh, cả những hy sinh, mất mát đã lùi xa. Nhưng, bài thơ Quê hương vẫn da diết đọng lại trong tâm khảm người đọc nhiều thế hệ. Mãi đến năm 1998, nhớ chuyện cũ, Giang Nam vẫn còn viết: “… Ôi con cò, con vạc. Nhớ thương bay mãi đến bây giờ…”. Tuổi mới yêu – dù ở thế hệ nào – rồi cũng bắt nhịp được trái tim mình vào tứ thơ “cười khúc khích” – “vẫn khúc khích cười, khi tôi hỏi nhỏ”. Quả thật, đời thường và sự nghiệp của anh đều hạnh phúc. Chỉ riêng một bài thơ như vậy, dường như cũng đã nói đủ về Giang Nam…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 10 , Nckhspud, Skkn, Diem Chuan Vao 10, Mmo, Crypto, Coin, Token, Stock, : Yêu Quê Hương Qua Từng Trang Sách Nhỏ
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Thơ Về Quê Hương, Đất Nước Hay Nhất Được Nhiều Độc Giả Yêu Thích
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Chùm Thơ Lục Bát Quê Hương Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Hay Viết Về Cảnh Làng Quê, Quê Hương Tôi
  • Quê Hương Nghĩa Nặng Tình Sâu
  • Lời Bài Hát Quê Hương Là Chùm Khế Ngọt

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Lớp Mầm Đề Tài: Bài Thơ Về Quê
  • Hãy Nói Về Quê Hương Em Hoặc Nơi Em Đang Ở
  • “…quê Hương Mỗi Người Chỉ Một/ Như Là Chỉ Một Mẹ Thôi…” Từ Những Câu Thơ Trên Viết Một Bài Văn Nghị Luận Bày Tỏ Suy Nghĩ Của Mình Về Vai Trò Và Ý Nghĩa Của Quê Hương Đối Với Cuộc Đời Mỗi Con Người
  • Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một
  • “bài Thơ Quê Hương”, Một Bài Thơ Ít Biết Của Nguyễn Bính
  • Quê hương là chùm khế ngọt lyric

    Nhạc sĩ sáng tác: Chưa biết

    Các ca sĩ: Trang Anh Thơ ,Đàm Vĩnh Hưng,Minh Hòa,Nhã Phương,Mỹ Linh,Băng Di,Lưu Gia Bảo,Cẩm Ly,Vũ Bảo,Phạm Trọng Cầu,Long Nhật,Phương Loan,Tuấn Anh,Kiều Trâm,Trang Anh Thơ,Thanh Hà,Thanh Hằng,Châu Anh Trường,Thuỳ Trang,Mỹ Hạnh,Linh Trúc,Thanh Thanh Hiền,Quốc Đại,Khánh Duy,Phạm Phương Thảo,Kyo York,Trịnh Thế Phong,AsLan,Bích Hồng,NSND Thanh Hoa,Bích Phương,Thanh Hoa,Mỹ Tâm,Thu Hương,Thu Minh,Trọng Tấn,Thúy Vân,Ngọc Sơn,Hòa tấu,Mạnh Quỳnh,Xuân Mai,Quang Lý,Lưu Ánh Loan,Dương Hồng Loan,Hạ Vân

    Thời gian sáng tác:

    Ngôn ngữ chính của bài hát: Việt Nam

    Cài làm nhạc chờ (trực tiếp)

    Quê hương – Lời thơ: Đỗ Trung Quân

    Quê hương là chùm khế ngọt

    Cho con trèo hái mỗi ngày

    Quê hương là đường đi học

    Con về rợp bướm vàng bay

    Quê hương là con diều biếc

    Tuổi thơ con thả trên đồng

    Quê hương là con đò nhỏ

    Êm đềm khua nước ven sông

    ĐK:

    Quê hương là cầu tre nhỏ

    Mẹ về nón lá ngiêng che

    Quê hương là đêm trăng tỏ

    Hoa cau rụng trắng ngoài thềm

    Quê hương mỗi người chỉ một

    Như là chỉ một Mẹ thôi

    Quê hương nếu ai không nhớ

    Sẽ không lớn nổi thành người

    Tên bài nhạc chuông Ca sĩ

    Về lời bài hát Quê hương là chùm khế ngọt

    Lời bài hát Quê hương là chùm khế ngọt (Quê hương là chùm khế ngọt lyrics) được cập nhật đầy đủ tại tainhacchuong.org.

    Nếu bạn thấy lời bài hát Quê hương là chùm khế ngọt cũng như các thông tin về tác giả- nhạc sĩ sáng tác, ảnh bản nhạc, ngôn ngữ/ thời gian sáng tác hay ca sĩ thể hiện bài hát Quê hương là chùm khế ngọt không chính xác hoặc chưa đầy đủ, chúng tôi rất cảm ơn nếu bạn đóng góp qua gửi lời bình hoặc liên hệ với ban quản trị website qua phần hỗ trợ trực tuyến.

    Ở phía dưới lời bài hát là danh sách nhạc chuông bài hát Quê hương là chùm khế ngọt, bạn cũng có thể sử dụng công cụ tìm kiếm ở box phía trên theo từ khóa (“Quê hương là chùm khế ngọt”)

    Khi bạn sử dụng thông tin về bài hát “Quê hương là chùm khế ngọt”, vui lòng ghi rõ nguồn chúng tôi khóa tìm kiếm:

    Lời bài hát Quê hương là chùm khế ngọt, Lời bài hát Quê hương là chùm khế ngọt- Trang Anh Thơ ,Đàm Vĩnh Hưng,Minh Hòa,Nhã Phương,Mỹ Linh,Băng Di,Lưu Gia Bảo,Cẩm Ly,Vũ Bảo,Phạm Trọng Cầu,Long Nhật,Phương Loan,Tuấn Anh,Kiều Trâm,Trang Anh Thơ,Thanh Hà,Thanh Hằng,Châu Anh Trường,Thuỳ Trang,Mỹ Hạnh,Linh Trúc,Thanh Thanh Hiền,Quốc Đại,Khánh Duy,Phạm Phương Thảo,Kyo York,Trịnh Thế Phong,AsLan,Bích Hồng,NSND Thanh Hoa,Bích Phương,Thanh Hoa,Mỹ Tâm,Thu Hương,Thu Minh,Trọng Tấn,Thúy Vân,Ngọc Sơn,Hòa tấu,Mạnh Quỳnh,Xuân Mai,Quang Lý,Lưu Ánh Loan,Dương Hồng Loan,Hạ Vân, Quê hương là chùm khế ngọt Lyric, nhạc sĩ sáng tác bài hát Quê hương là chùm khế ngọt, Quê hương là chùm khế ngọt lời bài hát – tác giả bài hát khuyết danh, lyric Quê hương là chùm khế ngọt – composer khuyết danh

    Loi bai hat Que huong la chum khe ngot, Que huong la chum khe ngot Lyric, thoi gian sang tac Que huong la chum khe ngot, Que huong la chum khe ngot loi bai hat – tac gia- nhac si sang tac khuyết danh, lyric Que huong la chum khe ngot – khuyết danh writer

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Viết Đoạn Văn Trong Văn Bản Thuyết Minh Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8
  • Hưng Yên Quê Tôi: Lời Gọi Mời Của Một Trái Tim Tha Thiết Yêu Quê
  • 1001 Bài Thơ Viết Về Hưng Yên Hay, Thơ Ca Ngợi Hưng Yên Quê Tôi
  • Tiếng Đồng Quê (Bài Đọc Hiểu Tiếng Việt Lớp 5
  • Đề Đọc Hiểu Đoạn Thơ Việt Nam Quê Hương Ta
  • Một Số Bài Ca Dao Về Quê Hương Nam Định

    --- Bài mới hơn ---

  • 1001 Bài Thơ Viết Về Phú Thọ Quê Hương, Tình Thơ Phú Thọ Hay
  • Nhà Thơ Đài Trang Viết Về Quê Hương Vĩnh Phúc
  • Chùm Thơ Viết Về Quảng Ninh Hay, Thơ Ngắn Ca Ngợi Quảng Ninh Quê Hương
  • Chùm Thơ Hay Viết Về Quê Hương Quảng Ngãi
  • Tế Hanh Trong Lòng Quê Hương Quảng Ngãi
  • Thuyền ngược hay là thuyền xuôi

    Thuyền về Nam Định cho tôi ghé nhờ

    Con gái chỉ nói ỡm ờ

    Thuyền anh chật chội còn nhờ làm sao!

    Miệng nói, tay bẻ lái vào

    Rửa chân cho sạch bước vào trong khoang

    Thuyền dọc anh trải chiếu ngang

    Anh thì nằm giữa hai nàng nằm bên.

    Em là con gái Phù Long

    Quê em Cồn Vịt, lấy chồng vườn Dâu

    Dù đi buôn đâu bán đâu

    Cũng về giữ đất trồng dâu chăn tằm.

    Hỡi cô thắt dải lưng xanh

    Có về Nam Định với anh thì về

    Nam Định có bến Đò Chè

    Có tàu ngô khách, có nghề ươm tơ.

    Chợ Vị Hoàng tháng sáu phiên

    Gặp cô hàng xén kết duyên bán hàng

    Hàng cô cánh kiến vỏ vang

    Giây thau giây thép giây đàn lưỡi câu

    Gương soi với lược chải đầu

    Hòn son bánh mực gương Tàu bày ra

    Đèn nhang sắp để trong nhà

    Giấy tiền vàng bạc đem ra bày hàng.

    Bán cơi trầu muộn, mua khuôn đúc vàng

    Mà duyên sao vẫn bẽ bàng ngày qua.

    Mồng một chơi cửa, chơi nhà

    Mồng hai chơi xóm, mồng ba chơi đình.

    Mông bốn chơi chợ Quả linh

    Mồng năm chợ Trình, mùng sáu non Côi.

    Qua ngày mồng bảy nghỉ ngơi

    Bước sang mồng tám đi chơi chợ Viềng

    Chợ Viềng một năm có một phiên

    Cái nón em đội cũng tiền anh mua.

    Nhắn dùm cô lái đò ngang năm nào

    Thuyền cô bên bến cắm sào

    Hay là đã đón khách vào phố trong.

    Thành Nam cảnh trí an bài

    Phố phường trên bộ, vạn chài dưới sông.

    Nhất thành là phố Cửa Đông

    Nhất lịch Hàng Ghế, Hàng Đồng, Hàng Thao

    Hàng Giầy đẹp khách yêu đào

    Muốn tìm quốc sĩ thì vào Văn Nhân

    Lại lều lại chõng về thăm Cửa Trường.

    Ngọt ngào lên đến Hàng Đường

    Say sưa Hàng Rượu, phô trương Hàng Cầm

    Hàng Tiện, Hàng Sũ, Hàng Mâm

    Gặp nhau Bến Gỗ, vui sân một nhà.

    Hàng Cót, Hàng Sắt bao xa

    Ai về Bến Ngự rẽ ra Khoái Đồng.

    Vải Màn nhỏ chỉ, nõn bông

    Hàng Cấp dệt lĩnh, Hàng Song buôn thừng.

    Hàng Dầu, Hàng Lạc, Hàng Vừng,

    Hàng Nâu tươi vỏ đỏ lòng vốn quen

    Hàng Vàng lắm bạc nhiều tiền

    Hàng Sơn gắn bó gần bên Hàng Quỳ.

    Trăm năm nghĩa bạc tình nghi

    Hàng Đàn, Hàng Ghế chung nghề thủ công.

    Đò Chè lơ lửng bến sông cắm sào.

    Phố khác buôn bán vui sao,

    Lợi quyền chểnh mảng nỡ trao tay người.

    Hàng Dầu, Hàng Mã, Hàng Nồi,

    Hàng Trống, Hàng Thiếc, lên chơi Hàng Thùng

    Hàng Cau, Hàng Nón, tưng bừng,

    Thành Nam văn vật lẫy lừng là đây!

    Đỗ Văn Binh @ 08:36 14/02/2013

    Số lượt xem: 1620

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chùm Thơ Hay Viết Về Nam Định, Thơ Ca Ngợi Nam Định Quê Hương Tôi
  • Tả Cảnh Quê Hương Em Đang Đổi Mới
  • Kể Về Những Đổi Mới Ở Quê Hương Em
  • Ngắm Nhìn Vẻ Đẹp Dịu Dàng Thơ Mộng Của Đồi Chè Mộc Châu
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Quê Hương
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100