Phân Tích Từ “hoa” Trong Bài Thơ Tây Tiến

--- Bài mới hơn ---

  • Cảm Hứng Lãng Mạn Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng.
  • Phân Tích Khổ Cuối Bài Thơ Tây Tiến
  • Các Dạng Đề Về Bài Thơ Tây Tiến
  • Bài Thơ Tây Tiến Có Phảng Phất Những Nỗi Buồn, Những Nét Đau
  • Soạn Giáo Án Bài Tây Tiến Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • “Tây Tiến” là bài thơ nổi tiếng của nhà thơ xứ Đoài – Quang Dũng. Nói đến Tây Tiến, người ta nói đến một thứ ngôn ngữ thơ tài hoa, đậm màu sắc bi tráng và lãng mạn. Bài thơ có nhiều hình ảnh đẹp, nhiều câu chữ xuất thần. Chữ “Hoa” xuất hiện ba lần trong toàn bài, đạt tới sự thăng hoa của cảm xúc nhưng nhiều người chưa hiểu thật đúng và sâu sắc ý thơ.

    Chữ “Hoa” thứ nhất xuất hiện trong dòng thứ 4, khổ 1 của bài thơ gợi ra nhiều cách hiểu khác nhau:

    “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

    Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi

    Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

    Mường Lát Hoa về trong đêm hơi”

    Chữ “Hoa” trong hình ảnh “Hoa về trong đêm hơi” ở câu thơ trên có nhiều người (nhất là học sinh) hiểu theo nghĩa: Đoàn quân Tây Tiến về Mường Lát trong đêm mang theo cả hương hoa rừng. Cách hiểu thứ hai nghiêng về nghĩa vốn có của từ “Hoa” nghĩa là bông hoa rừng. Khi phân tích, bình giảng cũng có người hiểu theo nghĩa “Hoa” chính là hình ảnh ẩn dụ chỉ các chiến sĩ Tây Tiến. Đôi khi người ta cũng cho rằng đó chỉ là một thủ pháp lạ hóa ngôn từ của Quang Dũng mà thôi. Sách giáo khoa không có phần chú thích chữ này,và thực tế cho thấy, khi tìm hiểu bài thơ, ít có nhà nghiên cứu, hay người viết nào luận bàn thật sâu sắc từ này, vì chưa hiểu rõ nên người ta thường bỏ qua vẻ đẹp của nó.

    Nhìn lại một số các hiểu từ “hoa” như trên, tôi cho rằng chưa thỏa đáng. Cách hiểu thứ nhất là cách hiểu suy diễn, vì ở đây không hề xuất hiện từ “hương”, do đó không thể hiểu là “Hương hoa”. Theo cách hiểu thứ hai, đặt trong văn cảnh bài thơ, đoàn quân Tây Tiến về Mường Lát trong đêm, chữ “Hoa” với nghĩa là “Hoa rừng” tỏ ra không phù hợp vì trong đêm tối, nhất là đêm hơi, đêm sương nhà thơ dù tinh tế đến đâu cũng không thể nhìn thấy vẻ đẹp của hoa. Cách hiểu thứ ba, mới nhìn có vẻ hợp lý hơn hai cách trước, tuy nhiên, trong văn học, người ta thường lấy hoa làm biểu tượng cho vẻ đẹp của người phụ nữ, chứ không thấy “Hoa” là biểu tượng cho người lính bao giờ. Vì thế, cũng không nên hiểu theo cách đó. Còn nếu nói, đó chỉ là thủ pháp lạ hóa về ngôn từ của nhà thơ, thì chỉ đúng phần nào, vì dụ lạ hóa đến mức nào, ngôn từ cũng phải mang trong nó một ý nghĩa, một hàm ý nào đó.

    Theo “Từ điển tiếng việt” chữ “Hoa” đứng một mình mang tới 7 nghĩa, nhưng áp vào trường hợp trên, tôi thấy không có từ nào phù hợp. Chữ “Hoa” trong từ ghép có tới 51 từ, trong đó chỉ có 2 từ là “Hoa đăng”,”Hoa đèn” hay “Hoa chúc” (Từ điển Hán Việt- Đào Duy Anh) mang tính chất phù hợp hơn cả. Nhưng ta nên lý giải như thế nào để đúng với bài thơ ?

    Đi tìm một cách luận giải hợp lý, tôi cho rằng để hiểu chữ “Hoa” thứ nhất ta nên bàn thêm về chữ “Hoa” thứ hai trong khổ thơ tiếp theo:

    “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

    Kìa em xiêm áo tự bao giờ

    Khèn lên man điệu nàng e ấp

    Nhạc về Viêng Chăn xây hồn thơ”

    Chữ hoa ở đây đặt trong từ “đuốc hoa” (hoa chúc), nghĩa là những ngọn đuốc trong đêm liên hoan của các chiến sĩ Tây Tiến với đồng bào dân tộc miền Tây. Ngọn đuốc đối với những người lính hành quân trong rừng đêm vừa là phương tiện soi đường, vừa là một thứ vũ khí đối phó với thú dữ. Trong bài “Việt Bắc”, Tố Hữu cũng viết:

    “Dân công đỏ đuốc từng đoàn

    Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”

    Trở lại với chữ “Hoa” thứ nhất trong khổ thơ đầu của bài thơ Tây Tiến, chúng ta cần hiểu theo nghĩa “Đuốc Hoa”. Đây là cách hiểu chính xác hơn cả. Chữ “Hoa” đạt tới sự thăng hoa trong cảm xúc Quang Dũng. Nhìn từ xa đoàn quân Tây Tiến hành quân về Mường Lát mang theo những ngọn đuốc giống như một dòng sông hoa lung linh, ẩn hiện trong đêm sương. Cách hiểu hiểu này cũng phù hợp với nỗi nhớ mênh mang, chơi vơi của nhà thơ ở những dòng thơ đầu. Sự lạ hóa trong ngôn từ của Quang Dũng thật tài hoa, mang đầy chất lãng mạn. Chính sự lạ hóa này làm cho hình ảnh đoàn quân Tây Tiến đẹp hơn, thơ hơn rất nhiều.

    Trong bài thơ Tây Tiến, chữ “Hoa” cũng xuất hiện trong đoạn thơ miêu tả vẻ đẹp thơ mộng của sông nước miền Tây:

    “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

    Có nhớ dáng người trên độc mộc

    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

    Chữ “Hoa” đã thể hiện cảm nhận tinh tế của nhà thơ về thiên nhiên. Hình ảnh những bông hoa rừng đong đưa như làm duyên trên dòng nước lũ làm khổ thơ đẹp hơn rất nhiều, Ba chữ “Hoa đong đưa” gợi một cảm xúc rất tình tứ và duyên dáng. Viết về vẻ đẹp của hoa rừng, ít nhà thơ nào viết được như vậy.

    Cả ba chữ “Hoa” trong bài thơ Tây Tiến đều đẹp, hoa(1) đẹp vẻ huyền ảo, hoa (2) đẹp lung linh, và hoa (3) đầy duyên dáng.

    Tóm lại, tuy chữ: hoa” chỉ là một chữ nhỏ trong bài thơ Tây Tiến, song chỉ một chữ thôi, Quang Dũng đã thể hiện những cảm nhận thật tinh tế và sự thăng hoa tuyệt vời trong cảm xúc. Nếu hiểu thật đúng và sâu sắc ý thơ, chúng ta sẽ thấy bài thơ hay và đẹp hơn rất nhiều.

    Nhận xét

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Vẻ Đẹp Bi Tráng Của Người Lính Tây Tiến Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Ngôn Ngữ Qua Bài Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Vẻ Đẹp Ngôn Ngữ Thơ Qua Bài Tây Tiến Của Quang Dũng (Bài Viết Số 2, Sgk Ngữ Văn Nâng Cao, Tập 1)
  • Phân Tích Khổ Đầu Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Phân Tích Hình Tượng Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Tác Giả Quang Dũng
  • Nghệ Thuật Tổ Chức Chất Liệu Ngôn Từ Trong Bài Thơ Tây Tiến

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Cảm Hứng Lãng Mạn Và Âm Hưởng Bi Tráng Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Phân Tích Cảm Hứng Lãng Mạn Và Âm Hưởng Bi Tráng Trong Bài Tây Tiến Quang Dũng
  • Sự Hài Hòa Giữa Chất Nhạc Và Chất Họa Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Kiến Thức Trọng Tâm Bài Thơ Tây Tiến
  • Bình Luận Về Chất Lãng Mạn Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Nghị luận bàn về nghệ thuật tổ chức chất liệu ngôn từ trong bài thơ Tây Tiến để thấy được cả bài thơ hiện ra như một sự hoà điệu đẹp đẽ

    Bài văn nghị luận độc đáo bàn về nghệ thuật tổ chức chất liệu ngôn từ trong bài thơ tây tiến

    Tây Tiến (1948) quả là nét son đẹp nhất trong đời thơ Quang Dũng. Cả bài thơ hiện ra như một sự hoà điệu đẹp đẽ giữa thơ – nhạc – hoạ. Về phương diện nghệ thuật, Tây Tiến còn thể hiện một trình độ tổ chức chất liệu ngôn từ xuất sắc với một cấu trúc thơ có thể nói đã đạt tới mức tối ưu. Nó thể hiện một cách đầy đủ các sắc độ chơi vơi trong nỗi nhớ của nhà thơ về một thời kì lịch sử hào hùng và lãng mạn. Sự độc đáo ấy của các lớp sóng ngôn từ chủ yếu được thể hiện qua cách sử dụng các từ địa danh một cách hợp lí.

    Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến khá rộng, trải dài từ Mai Châu, Châu Mộc – Hoà Bình, qua Lào rồi vòng về miền tây Thanh Hoá. Đó là một vùng đất hoang vu đầy bí mật. Quang Dũng không trao cho nỗi nhớ của mình những địa chỉ “vu vơ”, ông điểm danh từng tên cụ thể: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch… và sự có mặt của các địa danh này lập tức gợi ra ý niệm về sự xa ngái và hoang sơ. Trong trí nhớ người đọc, những cái tên kia thuộc một “típ” lạ, nó khác xa với những tên đất, tên làng vốn quen thuộc trong ca dao người Việt, nó cũng khác xa với kiểu “thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông” trong thơ Nguyễn Bính. Chính điều này đã trở thành một tác nhân kích thích trí tưởng tượng của người đọc, đẩy người đọc đứng trước sự tò mò khó cưỡng về những bí mật “đường rừng”.

    Cả Tây Tiến là một nỗi nhớ khôn nguôi của, một vùng đất một thời trận mạc. Vậy nên, khi nhắc đến các địa danh này, ta nhận thấy những kí ức của quá khứ hiện về thật tươi nguyên, nó chen lấn thực tại, tạo nên độ nhoè giữa hai không gian: không gian hiện tại và không gian hồi tưởng. Bởi thế, dù lạ lẫm, qua hồn thơ và nỗi nhớ Quang Dũng, các địa danh ấy xâm chiếm cõi nhớ người đọc, giúp họ yên tâm cùng Quang Dũng “trôi” về một vùng đất đẹp đẽ, dữ dội và mộng mơ, đằm thắm.

    Có một địa danh đi suốt bài thơ này, tạo nên “sợi nhớ sợi thương” trong nỗi nhớ nhà thơ là hình ảnh sông Mã. Đó là một dòng sông có thật, nhưng cũng là một sinh thể có hồn vía, có xúc cảm, nỗi niềm. Chính sông Mã đã thay lời Tổ quốc, thay lời nhân dân cất lên tiếng hát trầm hùng tiễn biệt những đứa con của quê hương đi vào cõi bất tử. Vượt qua tư cách là những tên đất tên làng như một khái niệm có tính địa lí, các địa danh trong Tây Tiến ngấm sâu nỗi nhớ của nhà thơ, và chính điều đó đã “làm đất lạ hoá quê hương”.

    Riêng địa danh Mường Hịch trong câu thơ “Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người” được dùng rất giỏi, chữ “Hịch” thanh trắc gắn với chữ “cọp” cũng thanh trắc làm cho người đọc liên tưởng đến những bước chân của chúa sơn lâm đang rình rập, đe doạ con người. Rõ ràng, Quang Dũng không sử dụng từ địa danh một cách tuỳ hứng mà ông biết chọn lựa và biết “điều phối” để tạo sức ám ảnh cho thơ. Đây cũng là một tài nghệ tạo lực hút của nhà thơ khi nhìn về độc giả. Nội lực các câu thơ của Quang Dũng chủ yếu dồn vào các động từ gây cảm giác mạnh.

    Trong bức tranh tả núi, tả dốc, Quang Dũng có một kiểu đo độ cao độc đáo: “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”. Có thể thay chữ “ngửi” bằng chữ “chạm” được, nếu nói về độ cao thuần tuý. Nhưng chữ “chạm” dễ làm cho ý thơ yếu đi, chữ “ngửi” mới là yếu tố làm cho câu thơ sinh động hẳn lên. Với động từ này, chí ít, người đọc có thể cảm nhận được ba lớp ý: Thứ nhất, đó là một độ cao chóng mặt (trước là mây, sau là trời). Thứ hai, “ngửi” nói về sự tinh nghịch, một cách nói rất lính (mà Quang Dũng cũng từng là lính đấy thôi). Như vậy, cái độ cao kia có thể làm ai sợ hãi chứ lính Tây Tiến thì không. Vả lại, “ngửi” đã biến cây súng thành người. Biện pháp nhân hoá này nhấn mạnh một thực tế, những chàng trai Hà Nội vừa hào hoa thanh lịch vừa không kém phần dầu dãi, phong trần. Thứ hai, cả câu thơ cho thấy “chí ta cao hơn đèo”. Không một độ cao nào, không một khó khăn gian khổ nào có thể cản nổi bước chân những anh hùng vệ quốc.

    Trong chiến tranh, hi sinh, tổn thất là điều không thể tránh. Nhưng “Gục lên súng mũ bỏ quên đời” lại là một cách nói lạ. Chữ “gục” trong câu thơ này vừa có tính tạo hình vừa có tính biểu cảm cao. Một mặt, “gục” giúp Quang Dũng tránh được việc dùng các từ chết, hi sinh…, mặt khác, nó vẫn giữ được cái thực tế nghiệt ngã và trần trụi của cuộc chiến. Câu thơ vì thế, không rơi vào bi lụy, hình ảnh thơ không bị thô. Đặc biệt, việc kết hợp “gục” với “bỏ quên đời” đã làm nảy lộ một cái nhìn: với người lính Tây Tiến, cái chết trở nên “không đáng kể”, nó chỉ là một chuyện “nhỏ” mà thôi. Cái nhìn ấy chỉ có thể có được ở những chàng trai ngang tàng, dám xả thân vì nghĩa lớn.

    Tây Tiến là bài thơ dày đặc những câu thơ tài hoa, nhưng có thể nói “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” là câu thơ tiêu biểu nhất cho thi hứng toàn bài. Chữ “gầm” được dùng rất đắc địa. Nó là âm vang của sông núi, là điệu kèn vĩnh quyết, là khúc hát bi tráng… Vũ Quần Phương đã nhận xét khá tinh rằng: “Nội lực câu thơ đó không nằm ở bản thân nó mà rơi xuống từ câu trên: “Áo bào thay chiếu anh về đất”. Vì cảnh bi hùng như vậy, sông Mã mới gầm lên và chỉ gầm lên đơn độc: “khúc độc hành”. Cái tiếng vang rung chuyển và ngự trị cả một vùng thiên nhiên trời đất sinh ra từ những mất mát câm lặng của con người”. Bài thơ mang phẩm chất anh hùng ngay trong nỗi buồn. Sự có mặt của các từ Hán Việt cùng góp phần tạo nên thành công của thi phẩm.

    Từ Hán Việt với đặc điểm chính là “nhòe về nghĩa, vang về ngữ âm, hạn chế về hoạt động” (Nguyễn Phan Cảnh) trước hết có ý nghĩa tạo ra màu sắc trang trọng, cổ kính cho thơ. Không phải ngẫu nhiên mà đoạn thơ thứ ba của Tây Tiến lại xuất hiện các từ Hán Việt nhiều như vậy: đoàn binh, biên cương, viễn xứ, độc hành… Ta biết rằng, trong những năm tháng cam go này, người lính Tây Tiến chết vì ốm, đói, bệnh tật nhiều hơn là chết vì đánh trận. Nếu sử dụng các từ thuần Việt để dựng lại cảnh tượng này, e mạch thơ lập tức sẽ rơi vào bi thương. Chính các từ Hán Việt đã làm cho cái màu sắc ảm đạm kia bị đẩy lùi. Quang Dũng không dùng “đoàn quân” mà ông dùng đoàn binh vì đoàn binh gợi lên khí thế “xung trận” sẵn sàng chiến đấu. Đặc biệt, Quang Dũng có ý thức gợi không khí để nhấn mạnh gam màu hùng tráng. Chi tiết “áo bào” là một chi tiết có khả năng làm đẹp, làm sang để át đi một thực tế khắc nghiệt: những người lính khi hi sinh, manh chiếu che thân cũng chẳng có. Nó bắc một chiếc cầu liên tưởng giúp người đọc nhớ về một thời xưa, các anh hùng trượng phu thà chết nơi sa trường da ngựa bọc thây, thà “một đi không về” coi cái chết nhẹ tựa lông hồng… Nương vào các hình ảnh có tính “siêu mẫu” này chân dung đoàn binh Tây Tiến hiện lên thật lẫm liệt oai hùng.

    Thêm nữa, sự có mặt của hệ thống từ thuần Việt: không mọc tóc, xanh, trừng, về đất, gầm… là những từ đậm chất lính, bình dị, đã góp phần “tiếp sức” cho sự có mặt của hệ thống từ Hán – Việt, tạo nên hiệu quả nghệ thuật đặc sắc, lấy cái bình dị để làm nổi bật cái cao cả, lấy cái bình thường để diễn tả cái anh hùng. Trên nền của cái bi, cái tráng vẫn xuất hiện như là yếu tố chủ đạo, tạo ra một sắc màu bi tráng độc đáo và ấn tượng. Chất keo kết dính các thành tố đã nói ở trên chính là cường độ và trường hợp của một nỗi nhớ chơi vơi.

    Như ta biết, thoạt đầu thi phẩm có tên là Nhớ Tây Tiến. Sau đó, Quang Dũng đã bỏ từ nhớ. Điều này hoàn toàn hợp lí bởi lẽ toàn bộ bài thơ là một nỗi nhớ tràn đầy, tha thiết. Các sắc độ của nỗi nhớ được thể hiện hết sức tài hoa. Mở đầu bài thơ đã là một tiếng gọi, nỗi nhớ ùa về da diết và khắc khoải. Thán từ “ôi” trong câu thơ “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói” cũng góp phần tạo hiệu suất biểu cảm cho ý thơ. Có khi nỗi nhớ lại hiện lên qua các kỉ niệm đẹp như những nét vẽ thuỷ mặc:

    Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

    Có nhớ hồn lau nẻo bến bờ…

    “Chiều sương” cũng chính là nền cảnh. Những câu thơ bảng lảng khói sương hoài niệm. Nhưng đó là những kỉ niệm như được dấy lên từ tiềm thức, vì thế, nó đọng lại rất sâu trong tâm tư người đọc.

    Gắn với cảm hứng chủ đạo là cách thức tổ chức giọng điệu tài hoa. Âm chủ của Tây Tiến là giọng điệu bi tráng. Nhưng vấn đề là ở chỗ, Quang Dũng đã tạo ra nhiều sắc thái giọng điệu khác nhau để làm nổi bật giọng điệu chủ đạo. Cách tạo không khí cũng hết sức đặc sắc. Khi thì người đọc cảm thấy căng thẳng bởi dốc cao, vực thẳm, khi lại nhẹ nhõm bởi vẻ trữ tình của cảnh với những câu thơ toàn thanh bằng, khi vui tươi với những đêm hội, khi lại bước vào một không khí cổ kính trang nghiêm… Chính cách thức tạo dựng không khí của nhà thơ đã giúp cho mạch thơ trở nên biến hóa, cảm xúc như những đợt sóng dõi theo bước chân những người lính ra đi với linh thần “Thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Cuối cùng, việc sử dụng cảm hứng và bút pháp lãng mạn để tái hiện chân dung những chàng trai kiêu dũng, hào hoa đã đem đến vẻ đẹp của thi phẩm.

    Bút pháp lãng mạn thường hướng về những tương quan đối lập, từ đó tô đậm thêm vẻ đẹp phi thường, cao cả của đối tượng. Nếu như Chính Hữu viết về những chàng vệ quốc bằng bút pháp hiện thực thì Quang Dũng đã tái hiện vẻ đẹp người lính bằng đôi cánh lãng mạn. Cảm hứng lãng mạn đã đem đến men say cho thi tứ, sự bay bổng của hình tượng. Quang Dũng đã thể hiện một cách chân thực sự nồng nàn của cảm hứng nhưng không quên đi cái khắc nghiệt của hiện thực chiến tranh, Bởi thế, người lính trong câu thơ ông nào có “yêng hùng”, có “mộng rớt”, “buồn rớt” gì đâu. Thậm chí, nếu thiếu đi cái chất lãng mạn, Tây Tiến cơ hồ sẽ mất đi vẻ đẹp toàn bích của nó.

    Chúc các em thi tốt^^

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Tây Tiến Để Chứng Minh Cảm Hứng Lãng Mạn Và Tinh Thần Bi Tráng Là Đặc Điểm Nổi Bật
  • Phân Tích Khuynh Hướng Sử Thi Và Cảm Hứng Lãng Mạn Trong Văn Học Việt Nam Từ Năm 1945 Đến Năm 1975
  • Phân Tích Bức Tranh Thiên Nhiên Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Phân Tích Hình Tượng Thiên Nhiên Trong Bài Thơ Tây Tiến
  • Phân Tích Hình Ảnh Người Lính Tây Tiến Trong Bài “tây Tiến” Của Quang Dũng
  • Các Dạng Đề Về Bài Thơ Tây Tiến

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thơ Tây Tiến Có Phảng Phất Những Nỗi Buồn, Những Nét Đau
  • Soạn Giáo Án Bài Tây Tiến Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • Bài Giảng Bài Thơ Tây Tiến
  • Bài Giảng Tây Tiến Ngắn Gọn Dễ Hiểu
  • Trình Bày Hoàn Cảnh Ra Đời Của Bài Thơ Tây Tiến
  • * Dàn ý

    – Giới thiệu ngắn gọn hoàn cảnh ra đời.

    – Qua nỗi nhớ da diết của nhà thơ về đồn quân Tây Tiến, ta thấy hiện lên hình ảnh người chiến sĩ: gan dạ, dũng cảm, không sờn lòng trước những khó khăn gian khổ; chiến đấu kiên cường, bất khuất, sẵn sàng hi sinh vì lí tưởng và lúc nào cũng phơi phới lạc quan.

    – Đây là bốn câu kết bài thơ (ghi bốn câu thơ) được viết theo những dòng chữ ghi vào mộ chí. Đó cũng là lời thề quyết tâm của các chiến sĩ Tây Tiến “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

    – Người chiến sĩ ra đi với quyết tâm sắc đá, có chí lớn, quyết lập được chiến công như người chiến sĩ trong bài thơ “Tống biệt hành” của Thâm Tâm:

    “Li khách! Li Khách con đường nhỏ Chí nhớn chưa về bàn tay không Thì không bao giớ nói trở lại Ba năm mẹ già cũng đừng mong”

    – “Không hẹn ước”, rồi lại “thăm thẳm một chia phôi”, Quang Dũng khẳng định cái ý niệm “Nhất khứ bất phục hòan” trong hình ảnh người chiến sĩ Tây Tiến cũng là cái ý niệm của chung cả một thời kì, một thế hệ con người. Đã nói nhiều đến Tây Tiến, đã nhắc lại nhiều kỉ niệm Tây Tiến, nhưng cuối cùng cái đọng lại sâu sắc nhất bền vững nhất về Tây Tiến vẫn là cái tinh thần ấy, Giọng thơ trầm, chậm, hơi buồn nhưng ý thơ thì vẫn hào hùng.

    Mùa xuân:

    + Thời điểm thành lập đòan quân Tây Tiến

    + Mùa xuân của đất nước

    + Mùa xuân (của tuổi trẻ) đời của các chiến sĩ đã trở thành cái thời điểm một đi không trở lại của lịch sử nước nhà. Sẽ không bao giờ còn có lại cái thuở và thiếu thốn đến dường ấy nhưng cũng lãng mạn và hào hùng đến dường ấy.

    – “Chẳng về xuôi” nghĩa là bỏ mình trên đường hành quân.

    – “Hồn về Sầm Nứa” chí nguyện của các chiến sĩ là sang nước bạn hợp đồng tác chiến với quân dân Lào chống Pháp, họ quyết tâm thực hiện lí tưởng ấy đến cùng. Cho nên, dù ngã xuống trên đường hành quân, nhưng hương hồn (anh linh) vẫn đi cùng đồng đội, sống trong lòng đồng đội. Tứ thơ này nâng chất sử thi của bài thơ.

      Kết bài

      Đó là hình ảnh người chiến sĩ gan dạ, dũng cảm, không sờn lòng…. Đến lúc chết vẫn giữ lời thề, họ là những người đau thương mà không bi lụy, mất mát mà vẫn tràn đầy niềm tin.

    Đề 2: Cảm nhận của anh chị về hình tượng người lính Tây Tiến

    – Vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến:

    + Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp hào hùng, có bóng dáng của các tráng sĩ thời xưa nhưng cũng rất thời đại, rất mới mẻ . Ý chí chiến đấu quên mình, tình yêu mãnh liệt với quê hương đất nước, tình yêu cuộc sống làm bừng sáng vẻ đẹp của cuộc đời chiến đấu gian khổ.

    + Vẻ đẹp của người lính không tách rời nỗi đau của chiến tranh ác liệt. Sự hi sinh gian khổ của người lính được biểu hiện bằng những hình ảnh bi thương nhưng không bi luỵ

    – Vẻ đẹp tâm hồn hào hoa, lãng mạn:

    + Không chỉ ở dáng vẻ “oai hùm” phóng túng mà luôn thăng hoa trong tâm hồn, trong từng giai điệu cảm xúc của người lính giữa cảnh tàn khốc của chiến tranh.

    + Chất lãng mạn và chất anh hùng không tách rời mà hoà nhập vào nhau tạo nên một vẻ đẹp vừa lí tưởng vừa hiện thực của hình tượng thơ.

    – Vẻ đẹp hình tượng người lính

    + Yêu cầu về kiến thức: học sinh có thể cảm nhận trình bày theo nhiều cách nhưng phải đảm bảo những nội dung sau:

    sáng vẻ đẹp cuộc đời chiến đấu gian khổ.

    – Vẻ đẹp người lính không tách rời với nỗi đau chiến tranh ác liệt. Sự hi sinh đã được biểu hiện bằng những hình ảnh bi thương nhưng không bi lụy.

    – Vẻ đẹp tâm hồn lãng mạn, hào hoa

    + Lí giải nguyên nhân tạo nên sự nét khác biệt giữa hình tượng người lính trong “Tây Tiến” so với người lính trong “Đồng chí” của Chính Hữu.

    + Vẻ đẹp lãng mạn được bộc lộ không phải chỉ có dáng vẻ “oai hùm”, phóng túng mà luôn thăng hoa trong tâm hồn, trong từng giai điệu cảm xúc của người lính giữa cảnh tàn khốc của chiến tranh.

    – Chất lãng mạn và chất anh hùng không tách rời, không mâu thuẫn với nhau mà thẩm thấu, hòa nhập làm một để tạo nên vẻ đẹp vừa lí tưởng, vừa hiện thực của hình tượng thơ. Đây là đóng góp lớn của Quang Dũng trong cách biể hiện hình tượng người lính trong thơ ca kháng chiến.

    “Tây Tiến” thể hiện lối cảm nghĩ riêng đó chính là tấm lòng Quang Dũng đối với một thời lịch sử đã qua. Cả bài thơ là một nỗi nhớ dài: Nhớ những miền đất mà tác giả đã từng qua, nhớ những đồng đội thân yêu, nhớ những kỷ niệm ấm áp tình quân dân kháng chiến. Tất cả những điều ấy đ­ược thể hiện bằng cái nhìn đầy lãng mạn của ng­ười lính. Đoạn thơ đầu gồm 14 câu như­ những th­ước phim quay chậm tái hiện địa bàn chiến đấu của ngư­ời lính Tây Tiến. Đó là thiên nhiên Tây Tiến, là những ngư­ời lính Tây Tiến cùng những kỷ niệm ấm tình quân dân.

    Mở đầu đoạn thơ Quang Dũng nhớ ngay đến dòng sông Mã. Dòng sông ấy hiện lên trong bài thơ nh­ một nhân vật, chứng kiến mọi gian khổ, nỗi buồn, niềm vui, mọi chiến công và mọi hy sinh của đoàn binh Tây Tiến. Sông Mã gắn liền với miền đất đã từng qua, những kỷ niệm từng trải của đoàn quân Tây Tiến. Nhắc tới sông Mã cũng là nhắc tới núi rừng thiên nhiên Tây Bắc. Nhà thơ nhớ về những miền đất trong nỗi nhớ “chơi vơi”. “Chơi vơi” là nỗi nhớ không có hình, không có l­ượng, không ai cân đong đo đếm đ­ược nó lửng lơ mà đầy ắp ám ảnh tâm trí con ngư­ời, khiến con ngư­ời nh­ư sống trong cõi mộng. Chữ “chơi vơi” hiệp vần với chữ “ơi” ở câu thơ trên khiến cho lời thơ thêm vang vọng.

    Trong nỗi nhớ “chơi vơi” ấy hiện lên cả một không gian xa xôi hiểm trở. Tính chất “xa xôi” thể hiện rõ ở một số địa danh: Sài Khao, M­ường Lát, Pha Luông, M­ường Hịch, Mai Châu. Nghe tên đất đã lạ vì đó là những vùng sâu, vùng xa của các dân tộc ít ng­ười từ Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình. Những địa danh này đi vào nỗi nhớ của nhà thơ bởi vậy nhớ về Tây Tiến thì cũng chính là nhớ về những vùng đất heo hút, hiểm trở đầu tiên. Điều này cũng dễ hiểu. Bởi những ngư­ời lính Tây Tiến vừa mới ra đi kháng chiến từ một mái tr­ường, một góc phố nào đó của thủ đô Hà Nội thì ấn t­ượng sâu đậm nhất về Tây Tiến trong họ lẽ đ­ương nhiên là những gian khổ, những địa danh nêu trên càng trở nên xa hơn khi nó gắn liền với hình ảnh “s­ương lấp”, “đoàn quân mỏi” hiện về “trong đêm hơi”.

    Câu thơ “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm” với điệp từ “dốc” gối lên nhau cộng với tính từ “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” làm sống dậy con đ­ường hành quân hiểm trở, gập ghềnh, dài vô tận. Âm điệu câu thơ như­ cũng khúc khuỷu như­ bị cắt đoạn như­ đư­ờng núi khúc khuỷu, có đoạn lên cao chót vót có đoạn xuống thăm thẳm. Con đư­ờng mà ng­ười lính Tây Tiến phải trải qua cao tới mức bóng ngư­ời in trên những cồn mây, đến mức “súng ngửi trời”

    Đây là cách nói thậm x­ưng thể hiện sự độc đáo của Quang Dũng. Nếu chỉ thấy súng chạm trời thì ta mới chỉ thấy đ­ược cái thế cao của dốc còn hình ảnh “Súng ngửi trời” hàm chứa một ý nghĩa khác. Đó là vẻ tinh nghịch, chất lính ngang tàng nh­ư thách thức cùng gian khổ của ngư­ời lính Tây Tiến. Điều này khiến cho hình ảnh ng­ười lính Tây Tiến đ­ược nâng cao rõ nét trong một không gian rộng lớn vời vợi, và đây cũng chính là chất lãng mạn bay bổng của tâm hồn người lính Tây Tiến, của Quang Dũng. Câu thơ còn gợi cho ta cảm giác về độ cao, độ sâu không cùng của dốc. Ta bắt gặp ý thơ này ở câu thơ: “Ngàn th­ước lên cao, ngàn th­ước xuống”. Cả hai câu đều ngắt nhịp 4/4. Thực ra ý của câu sau điệp lại ý của câu tr­ước nh­ưng lối điệp vô cùng sáng tạo, khiến cho ngư­ời đọc khó phát hiện ra. ý thơ gấp khúc giữa hai chiều cao thăm thẳm, sâu vòi vọi, dốc tiếp dốc, vực tiếp vực nhấn mạnh địa bàn hoạt động của những ng­ười lính vô cùng khó khăn, hiểm trở, vư­ợt qua những khó khăn, hiểm trở đó đã là một kỳ tích của những ng­ười lính.

    Tổng hợp những chi tiết đã phân tích ở trên ta có đ­ược một phần chính về bức tranh của thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, hoang dại, hiểm trở mà đầy sức hút. Những câu thơ phần lớn là thanh trắc càng gợi cái trúc trắc, trục trặc, tạo cảm giác cho độc giả về hơi thở nặng nhọc, mệt mỏi của ng­ười lính trên đường hành quân. Giữa những âm tiết toàn thanh trắc ấy chen vào câu thơ gần cuối đoạn thơ dài man mác toàn thanh bằng: “Nhà ai Pha Luông m­ưa xa khơi”. Đây chính là hình ảnh thơ mộng mà hoang dã về thiên nhiên Tây Tiến. Thiết nghĩ nếu câu thơ này vì lí do nào đó mà không có thì sức hấp dẫn của đoạn thơ sẽ giảm đi rất nhiều bởi lẽ chính câu thơ tạo nên nét thứ hai cho bức tranh về thiên nhiên Tây bắc. Thiên nhiên Tây bắc hùng vĩ, hoang sơ, hiểm trở nh­ưng đầy thơ mộng. Chất tài hoa của Quang Dũng đ­ược thể hiện khá trọn vẹn ở chỗ nhà thơ nhắc đến mư­a rừng mà tạo cảm giác đứng tr­ước biển lại người lên vẻ đẹp của ng­ười lính chân đứng trên dốc cao đầu gội trong mư­a lớn. Cứ một nét bút gân guốc lại xen vào một nét bút mềm mại, trữ tình tạo cho bức tranh về thiên nhiên Tây Tiến cân đối hài hòa.

    Nhắc lại những thử thách khắc nghiệt cũng là để nói đến sức chịu đựng bền bỉ của con ng­ười. Từ đây Quang Dũng vụt nhớ đến hình ảnh những đồng đội, dù can tr­ường trong dãi dầu nh­ưng có khi gian khổ đã v­ượt quá sức chịu đựng khiến cho ng­ười lính đã gục ngã, nh­ưng gục ngã trên t­ư thế hành quân.

    “Anh bạn dãi dầu không b­ước nữa Gục trên súng mũ bỏ quên đời”

    Nói đến cái chết mà lời thơ cứ nhẹ như­ không. Dường nh­ư ngư­ời lính Tây Tiến chỉ bỏ quên đời một lát rồi lại bừng tỉnh và b­ước tiếp. Nói về cái chết mà lời thơ không bi lụy. Đó cũng là một nét trong phong cách biểu hiện của nhà thơ Quang Dũng. Những ngày chiến đấu bảo vệ biên giới, để giúp bạn giữa núi rừng Tây Bắc thật lắm gian nan khó nhọc. Những gian nan khó nhọc còn hằn sâu trong trí nhớ. Quang Dũng không khoa tr­ương tính cách anh hùng dũng cảm, cũng không nói đến cảnh bách chiến bách thắng. Nh­ưng sống và chiến đấu trong một địa bàn hiểm trở dữ dội, hoang dã đã là anh hùng rồi.

    Vùng đất xa xôi hiểm trở với những nét dữ dội hoang dã:

    Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm M­ường Hịch cọp trêu ngư­ời

    Cảnh hiểm trở cheo leo nh­ưng đâu có tĩnh lặng thanh bình… Với những từ “oai linh”, “gầm thét” thác nư­ớc như­ một sức mạnh thiêng liêng, đầy quyền uy, đầy đe dọa, và những con hổ đi lang thang hoành hành ngang dọc coi mình là chúa tể của núi rừng làm cho cảnh rừng núi thêm rùng rợn ghê sợ.

    Đang nói đến cái rùng rợn bí hiểm của rừng già nhà thơ bỗng nhớ lại một kỷ niệm ấm áp tình quân dân.

    Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

    Trong gian khổ thiếu thốn ng­ười ta càng nâng niu càng quí trọng nghĩa tình. Hình ảnh những nồi cơm lên khói, những mùa màng thơm nếp xôi và đặc biệt là “em” biểu t­ượng cho ng­ười dân Tây Bắc hiện về trong cảm xúc nhà thơ vừa tự nhiên vừa tinh tế. Sự xuất hiện của những hình ảnh này khiến cho đoạn kết của khổ thơ có sức bay bổng. Đoạn thơ ấm lại trong tình quân dân mặn nồng. Hai câu cuối gieo vào tâm hồn độc giả một cảm xúc ấm nóng. Cái ấm nóng của tình ng­ười. Đây chính là chất lãng mạn bay bổng của đoạn thơ và nó như­ một nét vẽ tư­ơi sáng của bức tranh.

    Đoạn thơ là sự phối kết hợp hài hòa giữa hai bút pháp hiện thực và lãng mạn. Cả đoạn thơ nh­ư một bức tranh thủy mặc cổ điển đ­ược phác thảo theo lối tạo hình phư­ơng đông. Quang Dũng là một hoạ sĩ. Ông có tài chấm phá trong việc phác thảo cảnh vật. Quang Dũng đã xây một đài kỷ niệm trong thơ cho thiên nhiên Tây Bắc và ngư­ời lính Tây Tiến.

    Đoạn 2. Con ng­ười Tây Bắc duyên dáng và tài hoa

    Cả đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên diễm lệ có sức hòa hợp diệu kỳ giữa thiên nhiên và con ng­ười. Cảnh trí miền Tây ở khổ thơ d­ường như­ đ­ược tạo hình theo thi pháp truyền thống: “Thi trung hữu hoạ, thi trung hữu nhạc”. Một miền Tây thơ mộng thi vị giàu sức cuốn hút. Đoạn thơ thứ 2 này đ­ược xem là đoạn thơ tiêu biểu cho bút pháp nghệ thuật của Quang Dũng. Câu mở đầu đoạn tạo cảm giác đột ngột bừng sáng:

    Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

    “Bừng lên” vừa đột ngột, bất ngờ vừa thú vị. Cả cảnh vật và lòng ng­ười đều bừng sáng lên. Chất hào hoa trong bút pháp thể hiện của Quang Dũng đã bộc lộ ngay từ câu thơ đầu. Hai cụm từ “bừng lên” “hội đuốc hoa” thể hiện sự tinh tế trong việc sử dụng từ ngữ của Quang Dũng. Hai cụm từ này vừa có tính tả thực vừa đậm chất lãng mạn. “Bừng lên” vừa có nghĩa bừng sáng lung linh vừa như bừng tỉnh.

    “Hội đuốc hoa” đây là cảnh thực. Đêm liên hoan văn nghệ diễn ra d­ưới những cánh rừng, ng­ười đến dự đều cầm trên tay ngọn đuốc, gió thổi làm những ngọn đuốc lung linh phát ra những tia lửa. Cảnh t­ượng này trong đêm quả thật nhìn như­ hoa đuốc. Cảm nhận của Quang Dũng vừa tinh tế vừa lãng mạn, câu thơ gợi sức liên t­ưởng, t­ưởng t­ượng cho ngư­ời đọc. Trên cái nền không gian ấy “em” xuất hiện.”Em” xuất hiện lập tức trở thành trung điểm của mọi điểm nhìn.

    Kìa em xiêm áo tự bao giờ

    “Kìa em” lời chào đón đầy ngạc nhiên sung sư­ớng đến ngỡ ngàng. Lời chào đón mang tính phát hiện. Em lạ mà quen, quen mà lạ. Quang Dũng phát hiện ra vẻ đẹp rực rỡ của cô gái bằng cả niềm yêu, niềm say đến cảm phục. Yêu say từ vóc dáng đến trang phục. Chính trang phục truyền thống đậm đà bản sắc văn hóa của các thiếu nữ Tây Bắc càng tôn vinh lên vẻ đẹp của họ Quang Dũng không khỏi không thán phục đến ngạc nhiên tr­ước vẻ đẹp ấy. Em trở thành hạt nhân của bức tranh với vẻ đẹp xứ lạ phư­ơng xa. Câu thơ thứ ba xuất hiện lập tức khổ thơ như­ tràn đầy âm nhạc.

    Khèn lên man điệu nàng e ấp

    Những âm thanh phát ra từ nhạc cụ của đồng bào Tây Bắc đối với ng­ười lính Tây Tiến vừa lạ vừa có vẻ hoang dại mang tính sơ khai mà đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Chính cái lạ ấy làm đắm say tâm hồn những chàng trai Tây Tiến gốc Hà Nội hào hoa. Từ “man điệu” mà Quang Dũng sử dụng ở đây cũng rất tài hoa. Ng­ời đọc như­ đ­ược chứng kiến những vũ khúc hoang sơ của văn hóa Âu Lạc. Vũ khúc ấy hòa với vũ điệu Em duyên dáng, e ấp, tình tứ. Ta chú ý tác giả sử dụng từ : Ban đầu là “em” tiếp đến là “nàng” rồi sau lại là “em”. Từ cách sử dụng ấy ta cảm nhận đ­ược em như­ một nàng tiên kiều diễm và ta nh­ư lạc vào cõi thần tiên với không khí mê say đến ngây ngất. Chính trong không khí của âm nhạc, vũ điệu ấy đã chắp cánh cho tâm hồn những ngư­ời lính Tây Tiến thực sự ngất ngây tr­ước ng­ười và cảnh.

    Sẽ rất thiếu sót nếu như­ chúng ta dừng lại ở đây. Bởi lẽ bốn câu sau của đoạn thơ mới thực sự thi vị. Cả bốn câu là cảnh sắc Tây Bắc gợi cảm giác mênh mang, huyền ảo:

    Ngư­ời đi Châu Mộc chiều s­ương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng ng­ười trên độc mộc Trôi dòng n­ước lũ hoa đong đưa.

    Một không gian bảng lảng khói s­ương như­ trong cõi mộng cứ thế hiện ra. Cái thực của khí trời Tây Bắc, cái mộng của không khí bảng lảng sư­ơng khói hiện lên nh­ư một miền cổ tích. Ta nhớ rằng Quang Dũng là một họa sĩ bởi vậy đoạn thơ đậm màu sắc hội họa. Nét bút phác thảo của Quang Dũng thật là tài hoa. Chỉ một vài nét chấm phá vậy mà cái hồn của cảnh vật và con người hiện lên thật sinh động đầy sức cuốn hút.

    Không gian dòng sông buổi chiều giăng mắc một màu s­ương, sông n­ước bến bờ hoang dại như một bờ tiền sử. “Hồn lau” những cây lau không còn vô tri vô giác mà có linh hồn. Phải là một hồn thơ nhạy cảm, tinh tế, tài hoa và lãng mạn mới cảm nhận đư­ợc hồn lau đang dăng mắc dọc nẻo bến bờ. Không gian nên thơ ấy làm nền cho ngư­ời thơ xuất hiện:

    Có nhớ dáng ng­ời trên độc mộc

    Câu thơ không tả mà gợi, gợi cái dáng mềm mại uyển chuyển của cô gái trên chiếc thuyền độc mộc. Cảnh rất thơ và ngư­ời cũng rất tình. Bởi vậy tác giả như­ ngây ngất đắm say trư­ớc cảnh và ngư­ời. ở đây cảnh như­ làm duyên với ng­ười.

    Trôi dòng n­ước lũ hoa đong đưa

    Duyên dáng đến độ và tình tứ cũng hết lời: Bông hoa rừng cũng đong đưa làm duyên với ng­ười. Cảnh và ng­ười hòa quyện đồng điệu, tình tứ đến mê say trong cái nhìn lãng mạn của Quang Dũng. Ta có cảm nhận đây là thế giới của cõi mộng, cõi mơ, cõi thơ và cõi nhạc. Thơ và nhạc là hai yếu tố tạo nên bức tranh Tây Bắc nên thơ, mĩ lệ. Ai nói rằng Tây Bắc là xứ rừng thiêng nư­ớc độc xin hãy một lần để cho tâm hồn mình lắng lại để chất thơ Tây Bắc ngấm vào hồn.

    Đoạn thơ bộc lộ chất tài hoa, chất lãng mạn của Quang Dũng đến tuyệt vời. Cảm ơn nhà thơ đã cho ta một chuyến hành trình về với Tây Bắc thơ mộng để khám phá Tây Bắc và yêu Tây Bắc.

    Đoạn 3: Ng­ười lính Tây Tiến hào hùng và hào hoa

    Quang Dũng đã dựng bức tượng đài về ngư­ời lính vô danh trong khổ thơ thứ ba của bài thơ Tây Tiến. Ta có thể xem khổ thơ thứ ba này là những nét bút cuối cùng hoàn thiện bức t­ượng đài về chân dung ng­ười lính Tây Tiến hào hùng, hào hoa. Chân dung ng­ười lính hiện lên ở khổ thơ thứ 3 có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa vẻ đẹp tâm hồn, lý tư­ởng chiến đấu và phẩm chất hy sinh anh dũng. Có thể nói cả bài thơ là một tượng đài đầy màu sắc bi tráng về một đoàn quân trên một nền cảnh khác thư­ờng.

    Chân dung đoàn binh Tây Tiến đ­ược chạm khắc bằng nét bút vừa hiện thực vừa lãng mạn. Các chi tiết nh­ư lấy từ đời sống hiện thực và khúc xạ qua tâm hồn thơ Quang Dũng để rồi sau đó hiện lên trên trang thơ đầy sức hấp dẫn. Dọc theo hành trình, vẻ đẹp hào hùng kiêu dũng cứ lấp lánh dần lên, đến khi ng­ười lính Tây Tiến đối mặt với dịch bệnh, đối mặt với cái chết thì nó thật chói người, nét nào cũng sắc sảo lạ lùng và đầy lãng mạn:

    Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

    Chữ dùng của Quang Dũng ở đây thật lạ. Nếu mở đầu đoạn thơ tác giả dùng từ “Đoàn quân” thì ở đây tác giả dùng “Đoàn binh”. Cũng đoàn quân ấy thôi như­ng khi dùng “Đoàn binh” thì gợi hình ảnh đoàn chiến binh có vũ khí, có khí thế xung trận át đi vẻ ốm yếu của bệnh tật. Ba chữ “không mọc tóc” là đảo thế bị động thành chủ động. Không còn đoàn quân bị sốt rét rừng lâm tiều tuỵ đi rụng hết cả tóc. Giọng điệu của câu thơ cứ y nh­ư là họ cố tình không mọc tóc vậy. Nghe ngang tàng kiêu bạc và thấy rõ sự bốc tếu rất lính tráng.

    Các chi tiết “không mọc tóc, quân xanh màu lá” diễn tả cái gian khổ khác th­ường của cuộc đời ngư­ời lính trên một địa bàn hoạt động đặc biệt. Di chứng của những trận sốt rét rừng triền miên là “tóc không mọc” da xanh tái. Nh­ưng đối lập với ngoại hình tiều tụy ấy là sức mạnh phi th­ường tự bên trong phát ra từ tư­ thế “dữ oai hùm”. Với nghệ thuật t­ương phản chỉ 2 dòng thơ Quang Dũng làm nổi bật vẻ khác thư­ờng của đoàn quân Tây Tiến. Họ hiện lên như­ hình ảnh tráng sĩ tr­ượng phu một thuở qua hai câu tiếp:

    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

    “Mắt trừng” biểu thị sự dồn nén căm uất đến cao độ như có khả năng thiêu đốt quân thù qua ánh sáng của đôi mắt. Hình ảnh thơ làm nổi bật ý chí của đoàn binh Tây Tiến. ở đây ng­ười lính Tây Tiến đ­ược đề cập đến với tất cả thực trạng mệt mỏi, vất vả qua các từ “không mọc tóc”, “quân xanh màu lá”. Chính từ thực trạng này mà chân dung ng­ười lính sinh động chân thực. Thế như­ng v­ượt lên trên khó khăn thiếu thốn, tâm hồn ng­ười lính vẫn cất cánh “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Câu thơ ánh lên vẻ đẹp tâm hồn của người lính Tây Tiến. Ban ngày “Mắt trừng gửi mộng” giấc mộng chinh phu hư­ớng về phía trận mạc như­ng khi bom đạn yên rồi giấc mộng ấy lại h­ướng về phía sau cũng là h­ướng về phía tr­ớc, phía t­ương lai hẹn ­ước. Một ngày về trong chiến thắng để nối lại giấc mơ xưa. ý chí thì mãnh liệt, tình cảm thì say đắm. Hai nét đẹp hài hòa trong tính cách của những chàng trai Tây Tiến.

    Quang Dũng đã dùng hình ảnh đối lập: một bên là nấm mồ, một bên là ý chí của những ng­ười chiến binh:

    Rải rác biên cư­ơng mồ viễn xứ Chiến tr­ường đi chẳng tiếc đời xanh áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gần lên khúc độc hành.

    “Mồ viễn xứ” là những nấm mồ ở những nơi xa vắng hoang lạnh. Những nấm mồ rải rác trên đ­ường hành quân, nh­ng không thể cản đ­ược ý chí quyết ra đi của ngư­ời lính. Câu thơ sau chính là câu trả lời dứt khoát của những con ng­ười đứng cao hơn cái chết:

    Chiến trư­ờng đi chẳng tiếc đời xanh.

    Chính tình yêu quê h­ương đất nư­ớc sâu nặng đã giúp ng­ười lính coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Khi cần họ sẵn sàng hy sinh cho nghĩa lớn một cách thanh thản bình yên nh­ư giấc ngủ quên. Câu thơ vang lên như­ một lời thề đúng là cái chết của bậc tr­ượng phu

    “áo bào thay chiếu anh về đất”

    Nếu nh­ư ng­ười tráng sĩ phong kiến thuở tr­ước coi da ngựa bọc thây là lí tưởng thì anh bộ đội cụ Hồ ngày nay chiến đấu hi sinh vì Tổ quốc một cách tự nhiên thầm lặng. Hình ảnh “áo bào” làm tăng không khí cổ kính trang trọng cho cái chết của ngư­ời lính. Hai chữ “áo bào” lấy từ văn học cổ tái tạo vẻ đẹp của một tráng sĩ và nó làm mờ đi thực tại thiếu thốn gian khổ ở chiến tr­ường. Nó cũng gợi đ­ược hào khí của chí trai “thời loạn sẵn sàng chết giữa sa trư­ờng lấy da ngựa bọc thây. Chữ “về” nói đ­ược thái độ nhẹ nhõm, ngạo nghễ của ngư­ời tráng sĩ đi vào cái chết “Anh về đất” là hình ảnh đầy sức mạnh ngợi ca. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ thiêng liêng, ng­ười lính Tây Tiến trở về trong niềm chở che của đất mẹ quê h­ương, của đồng đội. Trở về với nơi đã sinh dư­ỡng ra mình. Tr­ước những cái chết cao cả ở địa bàn xa xôi hẻo lánh sông Mã là nhân vật chứng kiến và tiễn đ­ưa.

    Mở đầu bài thơ ta gặp ngay hình ảnh sông Mã, con sông ấy gắn liền với lịch sử đoàn quân Tây Tiến. Sông Mã chứng kiến mọi gian khổ, mọi chiến công và giờ đây lại chứng kiến sự hy sinh của ngư­ời lính. Đoạn thơ kết thúc bằng khúc ca bi tráng của sông Mã.

    “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

    Dòng sông Mã là chứng nhân của một thời kỳ hào hùng, chứng kiến cái chết của ngư­ời tráng sĩ, nó gầm lên khúc độc hành bi phẫn, làm rung động cả một chốn hoang sơ. Câu thơ có cái không khí chiến trận của bản anh hùng ca thời cổ. Câu thơ đề cập đến mất mát đau th­ương mà vẫn hùng tráng.

    Bốn câu thơ kết thúc đ­ược viết như­ những dòng chữ ghi vào mộ chí. Những dòng sông ấy cũng chính là lời thề của các chiến sĩ vệ quốc quân.

    “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy”

    “Mùa xuân” có thể đ­ược dùng nhiều nghĩa: thời điểm thành lập đoàn quân Tây Tiến (mùa xuân 1947), mùa xuân của đất n­ước, mùa xuân (tuổi thanh xuân) của đời các chiến sĩ.

    Hình ảnh “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”, “chẳng về xuôi” bỏ mình trên đư­ờng hành quân “Hồn về Sầm Nứa”: chí nguyện của các chiến sĩ là sang nước bạn hợp đồng tác chiến với quân tình nguyện Lào chống thực dân Pháp, thực hiện lý t­ưởng đến cùng. Bởi vậy dù đã ngã xuống trên đ­ường hành quân hồn (tinh thần của các anh) vẫn đi cùng với đồng đội, vẫn sống trong lòng đồng đội: Vang vọng âm h­ửơng văn tế của Nguyễn Đình Chiểu: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc”.

    ĐỀ 3

    Cảm nhận của anh chị về hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn: ” Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc ….. Sông Mã gầm lên khúc độchành” (Quang Dũng, Tây Tiến)

    – Tây Tiến là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Quang Dũng. Bài thơ

    được Quang Dũng viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh khi ông đã xa đơn vị

    Tây Tiến một thời gian.

    – Đoàn quân Tây Tiến được thành lập vào đầu năm 1947. Những người lính

    Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội thuộc nhiều tầng lớp khác nhau,

    trong đó có cả học sinh, sinh viên.

    – Đoạn thơ cần phân tích là đoạn thứ ba của bài thơ, trong đó Quang Dũng

    đã khắc họa hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến bằng bút pháp

    lãng mạn, thấm đẫm tinh thần bi tráng.

    2. Thân bài

      Vẻ đẹp lãng mạn của người lính Tây Tiến :Hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến được xây dựng bằng bút

      pháp lãng mạn với khuynh hướng tô đậm những cái phi thường, sử dụng rộng

      rãi thủ pháp đối lập để tác động mạnh vào cảm quan người đọc, kích

      thích trí tưởng tượng phong phú của người đọc.

      – Trong bài thơ, Quang Dũng đã tạo được một không khí, chuẩn bị cho sự

      xuất hiện trực tiếp của những người lính Tây Tiến ở đoạn thơ thứ ba này.

      Trên cái nền hoang vu hiểm trở vừa hùng vĩ vừa dữ dội khác thường của

      núi rừng (ở đoạn một), và duyên dáng, mĩ lệ, thơ mộng của Tây Bắc (ở

      đoạn hai), đến đoạn thơ thứ ba, hình ảnh những người lính Tây Tiến trực

      tiếp xuất hiện với một vẻ đẹp độc đáo và kì lạ :

      Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

      … Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

      – Quang Dũng đã chọn lọc những nét tiêu biểu nhất của những người lính

      Tây Tiến để tạc nên bức tượng đài tập thể đặng khái quát những gương mặt

      chung của cả đoàn quân. Qua ngòi bút của ông, những người lính Tây Tiến

      hiện ra đầy oai phong và dữ dội khác thường. Thực tế gian khổ thiếu

      thốn đã làm cho người lính da dẻ xanh xao, sốt rét làm họ trụi cả tóc.

      Quang Dũng không hề che giấu những sự thực tàn khốc đó. Song, cái nhìn

      lãng mạn của ông đã thấy họ ốm mà không yếu, đã nhìn thấy bên trong cái

      hình hài tiều tụy của họ chứa đựng một sức mạnh phi thường. Và ngòi bút

      lãng mạn của ông đã biến họ thành những bức chân dung lẫm liệt, oai

      hùng. Cái vẻ xanh xao vì đói khát, vì sốt rét của những người lính, qua

      cái nhìn của ông, vẫn toát lên cái oai phong của những con hổ nơi rừng

      thiêng. Cái vẻ oai phong, lẫm liệt ấy còn được thể hiện quan ánh mắt

      giận dữ (mắt trừng gửi mộng) của họ …

      – cái nhìn nhiều chiều của Quang Dũng đã giúp ông nhìn thấy xuyên qua

      cái vẻ oai hùng, dữ dằn bề ngoài của những người lính Tây Tiến là những

      tâm hồn còn rất trẻ, những trái tim rạo rực, khao khát yêu đương (Đêm mơ

      Hà Nội dáng kiều thơm). Như vậy, trong bốn câu thơ trên, Quang Dũng đã

      tạc lên bức tượng đài tập thể những người lính Tây Tiến không chỉ bằng

      những đường nét khắc họa dáng vẻ bề ngoài mà con thể hiện được cả thế

      giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ của họ.

      b. Chất bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến :

      – Khi viết về những người lính Tây Tiến, Quang Dũng đã nói tới cái chết,

      sự hi sinh nhưng không gây cảm giác bi lụy, tang thương. Cảm hứng lãng

      mạn đã khiến ngòi bút ông nói nhiều tới cái buồn, cái chết như là những

      chất liệu thẩm mỉ tạo nên cái đẹp mang chất bi hùng:

      Rải rác biên cương mồ viễn xứ

      ….Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

      – Khi miêu tả những người lính Tây Tiến, ngòi bút của Quang Dũng không

      hề nhấn chìm người đọc vào cái bi thương, bi lụy. Cảm hứng của ông mỗi

      khi chìm vào cái bi thương lại được nâng đỡ bằng đôi cánh của lí tưởng,

      của tinh thần lãng mạn. Chính vì vậy mà hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ

      rải rác nơi rừng hoang biên giới xa xôi đã bị mờ đi trước lí tưởng quên

      mình vì Tổ quốc của người lính Tây Tiến. Cái sự thật bi thảm những người

      lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có đến cả mảnh chiếu che thân,

      qua cái nhìn của nhà thơ, lại được bọc trong những tấm ào bào sang

      trọng. Và rồi, cái bi thương ấy bị át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội

      của dòng sông Mã :

      Áo bào thay chiếu anh về đất

      Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

      Cái chết, sự hi sinh của những người lính Tây Tiến được nhà thơ miêu tả

      thật trang trọng. Cái chết ấy đã tạo được sự cảm thương sâu sắc ở thiên

      nhiên. Và dòng sông Mã đã trân trọng đưa tiễn linh hồn người lính bằng

      cách tấu lên khúc nhạc trầm hùng

      – Tóm lại, hình ảnh những người lính Tây Tiến trong đoạn thơ này thấm

      đẫm tính chất bi tráng, chói ngời vẻ đẹp lí tưởng, mang dáng vẻ của

      những anh hùng kiểu chinh phu thuở xưa một đi không trở lại. 3. Kết bài

      Tây Tiến là sự kết tinh những sắc thái vừa độc đáo vừa đa dạng của

      ngòi bút Quang Dũng. Nhà thơ đã sáng tạo được hình tượng tập thể những

      người lính Tây Tiến, miêu tả được vẻ đẹp tinh thần của những con người

      tiêu biểu cho một thời kì lịch sử một đi không trở lại.

      – Thơ ca kháng chiến chống Pháp đã miêu tả thành công hình ảnh người

      lính. Và Quang Dũng, qua bài thơ Tây Tiến nổi tiếng của mình, đã góp vào

      viện bảo tàng hình ảnh những người lính đó bức chân dung người lính Tây

      Tiến rất độc đáo của mình.

    Phân tích tâm trạng của tác giả khi nhớ về miền

    tây Bắc Bộ và những người đồng đội trong đoạn “Sông Mã xa rồi Tây Tiến

    ơi ! …….. Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.” (Tây Tiến, Quang Dũng

    ĐỀ 4

    Giữa cái bộn bề của thị trường thơ hôm nay, lật trang sách cũ,

    gặp Tây Tiến của Quang Dũng, chợt xôn xao cõi lòng theo những

    vần thơ đượm màu kiêu bạc hào hoa: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi…

    Thơ hay có sức rung động mãnh liệt là vậy. Không cần tỉ mẩn

    bóc từng câu từng chữ mà thấm vào lòng người sự rung cảm chân

    thật đến run rẩy từng làn da thớ thịt. Tây Tiến đã thực sự

    chinh phục người đọc bằng tâm trạng của người trai ra đi cứu

    nước trong buổi đầu kháng chiến – với tâm tư in bóng trong dáng

    hình sông núi:

    “Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

    Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi

    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn mây súng ngửi trời

    Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi…”

    Cảnh ấy cũng là tình. Cũng là sương, là hoa, là mây, là mưa –

    những chi tiết thường gặp trong thơ cổ – nhưng còn đượm thêm

    không khí trầm hùng của thời đại được diễn tả bằng những từ

    ngữ, thanh điệu khi đọc lên ta cảm thấy ngang tàng. Hình ảnh

    của một đoàn quân mỏi đi trong cái khúc khuỷu, thăm thẳm, heo

    hút, giữa cái bồng bềnh sương khói chơi vơi được tác giả phác

    hoạ bằng những nét chấm phá tài tình. Con mắt thơ không dừng

    lại ở trong không gian rừng núi mà còn mở ra một không gian –

    tâm trạng của một hồn thơ chiến sĩ. Phảng phất một chút Lý

    Bạch trước Hoàng Hà – ngút ngát chí tang bồng của người trai

    thời loạn. Trong gian nan của người chiến sĩ Tây Tiến, ta vẫn

    gặp chút hóm hỉnh ở hình ảnh súng ngửi trời. Chạm mặt với

    thực tế khắc nghiệt – song chất hào hoa lãng tử không mất đi

    mà lại càng được tô đậm thêm, chân thật sống động trong những

    câu thơ đượm tình quê, tình đồng đội, tình quân dân. Một hiện

    thực về người lính Tây Tiến – anh Bộ đội Cụ Hồ trong những năm

    đầu chiến đấu gian khổ. Đó là cơn mưa gợi nỗi nhớ nhà sâu

    thẳm, là sợi khói cơm thơm quyện chặt tình người, một bóng

    hình đong đưa làm xao xuyến những trái tim trai trẻ…

    Bài thơ có nói đến hy sinh, mất mát, gian khổ nhưng cảm xúc

    hào hùng của lớp người “ra đi bảo tồn sông núi” đã lấn át

    cái bi luỵ buồn thương. Đoàn binh Tây Tiến trong thơ Quang Dũng

    như một sự kết tụ của tráng khí muôn đời, pha chút lãng mạn

    kiểu Kinh Kha “một đi không trở lại”. Phải chăng với tinh thần

    “coi cái chết nhẹ tựa lông hồng” mà toàn bài thơ mặc dù có

    nói đến chết chóc nhưng giọng điệu rất bình thản: anh về đất?

    Phải chăng khi xác định chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh,

    người chiến sĩ đã nhận ra mục đích của cuộc chiến đấu còn

    lớn hơn gấp vạn lần những gian khổ , hy sinh?

    Bài thơ không cường điệu hoá cảm xúc dẫu trong âm điệu gân

    guốc, khoẻ khoắn của toàn bài có những từ ngữ mang hơi hướng

    cổ điển như xiêm áo, dữ oai hùm, mồ viễn xứ, áo bào, khúc

    độc hành và cách diễn đạt tưởng chừng lạ lẫm tràn ngập không

    khí lãng mạn. Nếu chỉ chăm chăm đi tìm chất thép trong bài thơ

    theo quan điểm xã hội học thiển cận thì chẳng khác nào cầm

    dao đâm vào cái đẹp. Cái đẹp của bài thơ viết ra từ lửa máu

    đã làm rung lên những cảm xúc đồng điệu của bao thế hệ.

    Nhà thơ Trần Lê Vân, người bạn thân, đã từng sống nhiều năm, từng in thơ

    chung với Quang Dũng viết về hòan cảnh Quang Dũng sáng tác bài thơ Tây

    Tiến như sau:

    “Đòan quân Tây Tiến, sau một thời gian hoạt động ở Lào trở về thành lập

    trung đòan 52. Đại đội trưởng Quang Dũng ở đó đến cuối năm 1948 rồi được

    chuyển sang đơn vị khác. Rời xa đơn vị cũ chưa bao lâu, ngồi ở Phù Lưu

    Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ), anh viết bài tho Tây Tiến.”

    Muốn hiểu được bài thơ Tây Tiến, truớc hết cần phải có những hiểu biết

    về đoàn quân Tây Tiến cùng với địa bàn hoạt động của nó. Khoảng cuối mùa

    xuân năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến. Đó là một đơn vị

    thành lập vào đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào để bảo

    vệ biên giới Lào-Việt, đánh tiêu hao địch ở Thượng Lào để hỗ trợ cho

    cuộc kháng chiến ở những vùng khác trên đất Lào. Địa bàn hoạt động của

    đoàn quân Tây Tiến khá rộng, bao gồm vùng rừng núi Tây Bắc Việt Nam và

    Thuợng Lào: từ Châu Mai, Châu Mộc sang tận Sầm Nứa rồi vòng về qua miền

    tây Thanh Hóa. Những nơi này, lúc đó còn rất hoang vu và hiểm trở, núi

    cao, sông sâu, rừng dày, có nhiều thú dữ.

    Những người lính Tây Tiến phần đong là thanh niên Hà Nội, thuộc nhiều

    tầng lớp khác nhau, trong đó có cả những học sinh, sinh viên. Sinh hoạt

    của những người lính Tây Tiến hết sức gian khổ, ốm đau không có thuốc

    men, tử vong vì sốt rét nhiều hơn vì đánh trận, tuy vậy, họ vẫn sống rất

    lạc quan và chiến đấu rất dũng cảm. Vượt lên trên mọi thử thách khắc

    nghiệt của chiến tranh và hòan cảnh sống cực kì gian khổ, họ vẫn giữ

    được cái cốt cách hào hoa, thanh lịch, rất yêu đời và cũng rất lãng mạn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Khổ Cuối Bài Thơ Tây Tiến
  • Cảm Hứng Lãng Mạn Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng.
  • Phân Tích Từ “hoa” Trong Bài Thơ Tây Tiến
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Bi Tráng Của Người Lính Tây Tiến Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Ngôn Ngữ Qua Bài Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Các Dạng Đề Đọc Hiểu Với Bài Thơ Tây Tiến

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Giải Câu Hỏi Đọc Hiểu Về Bài Tây Tiến
  • Bút Pháp Của Quang Dũng Trong Bài Thơ “tây Tiến” Là Bút Pháp Hiện Thực Hay Lãng Mạn? Phân Tích, So Sánh Với Bài Thơ “đồng Chí” Của Chính Hữu Để Làm Sáng Rõ Biện Pháp Đó
  • Chân Dung Người Lính Trong “tây Tiến” Của Quang Dũng Và “đồng Chí” Của Chính Hữu
  • Phân Tích Khổ 4 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Phân Tích Khổ Thơ Cuối Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Đề 1

    Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới. Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành

    (Trích ” Tây Tiến ” – Quang Dũng)

    1. Văn bản trên được viết theo thể thơ gì?
    2. Nêu nội dung cơ bản của văn bản
    3. Văn bản có sử dụng rất nhiều từ Hán Việt, anh/ chị hãy liệt kê những từ ngữ đó và nêu tác dụng của chúng.
    4. Chỉ ra phép tu từ nói giảm được sử dụng trong văn bản và nêu tác dụng của phép tu từ đó.
    5. Anh/ chị hãy viết 1 bài văn trình bày cảm nhận của mình về vẻ đẹp của những người lính trong thời đại xưa và nay

    Đáp án

    -Văn bản trên được viết theo thể thơ thất ngôn.

    – Văn bản tập trung khắc họa chân dung người chiến binh Tây Tiến (ngoại hình, tâm hồn, lí tưởng, sự hi sinh)

    – Những từ Hán Việt được sử dụng là: đoàn binh, biên giới, chiến trường, biên cương, viễn xứ, áo bào, độc hành. Việc sừ dụng những từ Hán Việt ở đây đã tạo ra sắc thái trang trọng, mang ý nghĩa khái quát, làm tôn thêm vẻ đẹp của người lính Tây Tiến, góp phần tạo ra vẻ đẹp hào hùng cho hình tượng.

    – Phép tu từ nói giảm dược thể hiện trong câu thơ: ” Áo bào thay chiếu anh về đất”. Cụm từ ” về đất ” được thay thế cho sự chết chóc, hi sinh. Phép tu từ này có tác dụng làm giảm sắc thái bi thương cho cái chết của người lính Tây Tiến. Người lính Tây Tiến ngã xuống thật thanh thản, nhẹ nhàng.

    5.Học sinh có thể tham khảo gợi ý sau để viết bài:

    ‘- Vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến:

    + Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp hào hùng, có bóng dáng của các tráng sĩ thời xưa: Ý chí chiến đấu quên mình, tình yêu mãnh liệt với quê hương đất nước, tình yêu cuộc sống .

    + Vẻ đẹp của người lính không tách rời nỗi đau của chiến tranh ác liệt. Sự hi sinh gian khổ của người lính được biểu hiện bằng những hình ảnh bi thương nhưng không bi luỵ

    – Vẻ đẹp tâm hồn hào hoa, lãng mạn:

    + Không chỉ ở dáng vẻ “oai hùm” phóng túng mà luôn thăng hoa trong tâm hồn, trong từng giai điệu cảm xúc của người lính giữa cảnh tàn khốc của chiến tranh.

    + Chất lãng mạn và chất anh hùng không tách rời mà hoà nhập vào nhau tạo nên một vẻ đẹp vừa lí tưởng vừa hiện thực của hình tượng thơ.

    Về vẻ đẹp của người lính trong thời đại ngày nay : dũng cảm ,ngày đêm chiến đấu quên mình để bảo vệ biển đảo quê hương ( dẫn chứng ), đó là những phẩm chất cao đẹp đã trở thành truyền thống của anh bộ đội cụ Hồ.Người lính vẫn mang trong mình lòng yêu nước thiết tha cháy bỏng, lòng căm thù giặc sâu sắc và tinh thần sẵn sàng sả thân vì tổ quốc…

    Đề 2

    Đọc đoạn trích và trả lời các câu hỏi. “…Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành…” Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

    1. Đoạn thơ trên thể hiện tâm trạng gì của tác giả? Tại sao tác giả không dùng từ “đoàn quân” mà dùng từ “đoàn binh?”,
    2. Các từ “không mọc tóc“, “xanh màu lá” có vai trò gì trong việc thể hiện chân dung người lính lính Tây Tiến?
    3. Vẻ đẹp tâm hồn của người lính Tây Tiến được thể hiện như thế nào qua từ “mộng“, ““trong đoạn thơ?
    4. Nêu ý nghĩa tu từ của từ “anh về đất” trong đoạn thơ .
    5. Từ đoạn thơ, viết một đoạn văn ngắn bày tỏ suy nghĩ về trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc của tuổi trẻ ngày nay.

    1.Ở 4 câu thơ đầu, người lính Tây Tiến hiện ra với những bước chân Tây tiến vang dội, khí thế hào hùng và một thế giới tâm hồn hết sức lãng mạn.Ở 4 câu cuối có giọng điệu trang trọng, thể hiện tình cảm đau thương vô hạn và sự trân trọng, kính cẩn của nhà thơ trước sự hy sinh của đồng đội. Quang Dũng qua khổ thơ này đã bộc lộ sâu sắc sự gắn bó, ám ảnh, ghi nhớ hình ảnh về đồng đội những ngày gian khổ nơi núi rừng miền tây.

    “đoàn binh” âm Hán Việt đã gợi ra một khí thế hết sức nghiêm trang, hùng dũng

    2 “không mọc tóc” và” xanh màu lá”: tái hiện hình ảnh người lính với hiện thực khốc liêt của bệnh tật. Rừng sâu, nước độc đã tàn phá ngoại hình những chàng trai trẻ đất Hà Thành. Bệnh sốt rét rừng đã khiến cho tóc rụng trọc, da xanh. Nhưng với sức sống của tuổi thanh niên, ngòi bút lãng mạn của Quang Dũng đã nắm bắt hiện thực cuôc chiến, tô đậm và phóng đại, hiện lên dáng vẻ người lính đẹp lạ thường. Người lính vẫn hiên ngang đầy khí phách :” dữ oai hùm”., bút pháp lãng mạn đã xoá đi cái cảm giác tiều tụy, ốm yếu để nhấn mạnh đến sức mạnh khí phách của những người lính.

    3.

    + Hình ảnh lạ, sáng tạo độc đáo

    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

    Đêm mơ Hà Hội dáng kiều thơm” .

    Mộng lập công danh: có ý chí, khát vọng lớn lao

    Bên trong cái dữ dằn, oai hùng của người lính là những tâm hồn, những trái tim rạo rực, khao khát yêu thương:Trong khổ cực, gian khó vẫn giữ được cái mơ mộng, lãng mạn của đất Hà Thành thanh lịch. Họ sống với cả những giấc mộng “dáng kiều thơm”, sống với nỗi nhớ da diết cái đẹp trong cuộc sống thanh bình.

    4.” anh về đất” là biện pháp nói giảm, nói tránh để chỉ cái chết của người lính : sự thanh thản, nhẹ nhõm khi đón nhận cái chết.

    5.

    Từ đoạn thơ, viết một đoạn văn ngắn bày tỏ suy nghĩ về trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc của tuổi trẻ ngày nay:Học sinh có thể tham khảo những ý sau để viết bài

    +Ngày nay thanh niên là lực lượng đông đảo,ham hiểu biết cái mới, giàu sức sáng tạo, hăng hái, có chí tiến thủ ,là nguồn nhân lực chủ yếu tạo nên sức mạnh to lớn trong sự nghiệp cách mạng dân tộc.

    +Thanh niên thế hệ trẻ chúng ta hãy để cho nhiệt huyết tuổi trẻ bùng cháy, cho sức sống căng tràn, hãy sống với lý tưởng và hoài bão cao đẹp, bởi tuổi trẻ qua đi không bao giờ trở lại.

    +Trong bối cảnh cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo ở biển Đông diễn ra ngày càng gay gắt, quyết liệt, khi mà hàng triệu trái tim hòa cùng nhịp đập hướng về biển đảo quê hương, là sinh viên học sinh, chúng ta cần tích cực học tập rèn luyện phẩm chất đạo đức, trau dồi bản lĩnh chính trị, không ngại khó khăn, gian khổ để phấn đấu trở thành những người có ích cho xã hội.

    Đề 3

    Đọc đoạn thơ và trả lời các câu hỏi.

    Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa…”.

    …Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,

    Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau:

    Đoạn thơ trên thể hiện tâm trạng gì của tác giả?

    Các từ “xiêm áo”, “khèn”,”man điệu”, “e ấp” có vai trò gì trong việc thể hiện những hình ảnh vẻ đẹp văn hoá miền núi và tâm trạng người lính Tây Tiến?

    Câu thơ Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa được sử dụng nghệ thuật gì? Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó.

    .1.Khổ thơ mở đầu phần thơ này là cảnh liên hoan lửa trại ở những bản làng mà đoàn binh Tây Tiến dừng chân. Qua hồn thơ của ông, cảnh đêm lửa trại ở trong bài thơ này hiện lên vừa thực vừa mông lung vừa huyền ảo.Đoạn thơ là sự ngạc nhiên , là tiếng reo vui đến ngỡ ngàng của người lính Tây Tiến và cũng là của tác giả trước vẻ đẹp của thiên nhiên và con người miền Tây

    2.Các từ “xiêm áo”, “khèn”,”man điệu”, “e ấp” thể hiện vẻ đẹp của cô gái vùng cao .Em trở thành hạt nhân của bức tranh với vẻ xinh đẹp, duyên dáng “e ấp”, xuất hiện trong bộ xiêm áo rực rỡ.Chính trang phục truyền thống đậm đà bản sắc văn hóa của các thiếu nữ Tây Bắc càng tôn vinh lên vẻ đẹp của họ

    Quang Dũng phát hiện ra vẻ đẹp rực rỡ của cô gái bằng cả niềm yêu, niềm say đến cảm phục. Người lính Tây Tiến không khỏi ngạc nhiên, thán phục tr­ước vẻ đẹp ấy .Chính cái lạ ấy làm đắm say tâm hồn những chàng trai Tây Tiến gốc Hà Nội hào hoa.Trong không khí của âm nhạc, vũ điệu ấy tâm hồn những ngư­ời lính Tây Tiến thăng hoa, mọi mỏi mệt như bị đẩy lùi, thêm vào đó là lòng yêu đời, yêu miền đất lạ.

    3.Câu thơ Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa :

    Câu thơ cuối sử dụng nghệ thuật đối lập: “Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. Đó là sự đối lập giữa cái dữ dội của thiên nhiên “Trôi dòng nước lũ” với cái mềm mại, dễ thương “hoa đong đưa” Dòng sông Mã đã hiện lên với sự nhẹ nhàng đến kỳ lạ. Từ láy “đong đưa” được sử dụng rất gợi: Cánh hoa rừng như cũng duyên dáng, nhẹ nhàng , uyển chuyển và đáng yêu.Dáng hoa ấy hoà hợp với dáng người trên độc mộc làm nên một bức tranh thật lãng mạn mà cũng thật hào hùng.

    Đọc đoạn thơ và trả lời các câu hỏi. Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời ! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi…” Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !

    Đề 4

    1. Đoạn thơ trên thể hiện tâm trạng gì của tác giả?
    2. Nêu ý nghĩa tu từ của từ láy chơi vơi trong đoạn thơ.
    3. Câu thơ: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi được phối thanh như thế nào? Nêu hiệu quả nghệ thuật của việc phối thanh đó.
      Cụm từ bỏ quên đời thể hiện vẻ đẹp bi hùng của người lính Tây Tiến như thế nào?

    Đáp án:

    1.

    Đoạn thơ mở đầu bằng hai câu thơ mang cảm xúc chủ đạo của toàn đoạn thơ. Cảm xúc ấy là nỗi nhớ:Đối tượng của nỗi nhớ là con Sông Mã, nhớ Tây Tiến, nhớ đồng đội, nhớ bao gương mặt một thời chinh chiến, nhớ về rừng núi. Nay tất cả đã “xa rồi” nên mới nhớ da diết như thế

    2. “Chơi vơi” là trạng thái trơ trọi giữa khoảng không rộng, không thể bấu víu vào đâu cả. “Nhớ chơi vơi” có thể hiểu là một mình giữa thế giới hoài niệm , nỗi nhớ da diết, miên man, bồi hồi, bâng khuâng, sâu lắng làm cho con người có cảm giác đứng ngồi không yên.

    3.Những câu trên có nhiều thanh trắc, gợi sự trắc trở, gập nghềnh của đường hành quân, đến câu: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” toàn thanh bằng liên tiếp, gợi tả sự êm dịu, tươi mát của tâm hồn những người lính trẻ, trong gian khổ vẫn lạc quan yêu đời. Nhịp thơ chậm , âm điệu nhẹ nhàng, sâu lắng tạ sự thư thái trong tâm hồn

    4. Nghệ thuật nói giảm nói tránh đã làm cho câu thơ giảm đi đau thương mà thay vào đó là sự bi tráng, hào hùng. Người lính ra đi mà như đi vào giấc ngủ bởi họ đã khoác lên mình đôi cánh của lý tưởng “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Hình Tượng Người Lính Trong Bài Thơ “tây Tiến” Của Quang Dũng
  • Phân Tích Bài Thơ Tây Tiến Quang Dũng
  • Phát Biểu Cảm Nhận Của Bản Thân Về Bài Thơ Tây Tiến Của Nhà Thơ Quang Dũng
  • Soạn Bài Thơ Tây Tiến
  • Những Dẫn Chứng Có Thể Liên Hệ, Mở Rộng Trong Bài Thơ Việt Bắc
  • Hướng Dẫn Làm Bài Về Các Dạng Đề ”Tây Tiến”

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Thi Giáo Viên Giỏi: Bài Tây Tiến
  • Câu Hỏi Đọc Hiểu Về Bài Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Cảm Nhận Khổ 4 Bài Thơ “Tây Tiến” Hay Nhất Đầy Đủ
  • Phân Tích Cảm Nhận Khổ 2, Đoạn 2 Bài Thơ Tây Tiến Hay Nhất
  • Phân Tích Khổ 9 1 Bài Thơ Tây Tiến …
  • Tây Tiến là một bài thơ của nhà thơ Quang Dũng, được in trong tập ”Mây đầu ô”. Bài thơ này đã được đưa vào giảng dạy trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam.

    Đề bài:

    Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau trong bài thơ “

    Tây Tiến

    ” của Quang Dũng:

     

       “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

       Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

       Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

       Mường Lát hoa về trong đêm hơi

       Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

       Heo hút cồn mây súng ngửi trời

       Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

       Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

       Anh bạn dãi dầu không bước nữa

       Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

       Chiều chiều oai linh thác gầm thét

       Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

       Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

       Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

     

    HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

    I. MỞ BÀI

    Quang Dũng là nghệ sĩ đa tài: viết văn, làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc… nhưng thành công nhất vẫn là thơ ca. Các tập thơ tiêu biểu của Quang Dũng được bạn đọc biết đến nhiều như “Mây đầu ô”, “Mùa hoa gạo”, “Tuyển tập thơ văn Quang Dũng”. Nhưng tên tuổi của Quang Dũng có lẽ đã gắn liền với bài thơ Tây Tiến. Bài thơ ra đời vào năm 1948 in trong tập “Mây đầu ô” là bài thơ tiêu biểu nhất của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ có giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc mà tiêu biểu là đoạn thơ sau đây:

    “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

    Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

    II. THÂN BÀI

    1. Khái quát trước khi phân tích/ cảm nhận: Tây Tiến là một phân hiệu bộ đội được thành lập đầu năm 1947, thành phần chủ yếu là thanh niên trí thức Hà Nội. Nhiệm vụ của họ là phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới phía Tây. Năm 1948, Tây Tiến giải thể để thành lập trung đoàn 52. Quang Dũng cũng chuyển sang đơn vị khác. Sau khi rời đơn vị cũ chưa được bao lâu Quang Dũng đã sáng tác bài thơ này. Đoạn thơ ta phân tích là đoạn mười bốn câu thơ đầu của bài thơ “Tây Tiến”.

    2. Đoạn thơ mở đầu bằng hai câu thơ mang cảm xúc chủ đạo của toàn đoạn thơ. Cảm xúc ấy là nỗi nhớ:

    Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

    Đối tượng của nỗi nhớ ấy là con Sông Mã, con sông gắn liền với chặng đường hành quân của người lính. Đối tượng nhớ thứ hai là nhớ Tây Tiến, nhớ đồng đội, nhớ bao gương mặt một thời chinh chiến. Nỗi nhớ ấy được bật lên thành tiếng gọi tha thiết “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi” gợi lên bao nỗi niềm lâng lâng khó tả. Đối tượng thứ ba của nối nhớ đó là “nhớ về rừng núi” . Rừng núi là địa bàn hoạt động của Tây Tiến với bao gian nguy, vất vả nhưng cũng thật trữ tình, lãng mạn. Nhưng nay, tất cả đã “xa rồi”. “Xa rồi” nên mới nhớ da diết như thế. Điệp từ nhớ được nhắc lại hai lần như khắc sâu thêm nỗi lòng của nhà thơ. Đặc biệt tình cảm ấy được Quang Dũng thể hiện bằng ba từ “Nhớ chơi vơi”, cùng với cách hiệp vần “ơi” ở câu thơ trên làm nổi bật một nét nghĩa mới: “Chơi vơi” là trạng thái trơ trọi giữa khoảng không rộng, không thể bấu víu vào đâu cả. “Nhớ chơi vơi” có thể hiểu là một mình giữa thế giới hoài niệm mênh mông, bề bộn, không đầu, không cuối, không thứ tự thời gian, không gian. Đó là nỗi nhớ da diết, miên man, bồi hồi, bâng khuâng, sâu lắng làm cho con người có cảm giác đứng ngồi không yên.

    2. Sáu dòng thơ tiếp theo là nỗi nhớ về cuộc hành quân giữa núi rừng miền Tây vừa hùng vĩ , hiểm trở lại vừa thơ mộng trữ tình được cảm nhận bằng cảm hứng lãng mạn và tâm hồn lãng mạn hào hoa:

    Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi

    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn mây súng ngửi trời

    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

    a. Thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội, hiểm nguy nhưng không ngăn nổi bước chân người lính:

    – Thiên nhiên khắc nghiệt: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”. Trên đỉnh Sài Khao, sương dày đến độ “lấp” cả đoàn quân. Đoàn binh hành quân trong sương lạnh giữa núi rừng trùng điệp. Chữ “mỏi” làm hiện lên trước mắt ta hình ảnh của một đoàn quân mệt mỏi rã rời.

    – Con đường hành quân với cảnh vượt dốc, đường đi nguy hiểm với dốc cao, vực thẳm: Dưới ngòi bút của Quang Dũng, con đường hành quân mở ra với biết bao nhiêu khó khăn gian khổ. Đường đi toàn dốc cao, vực thẳm được diễn tả với nhiều từ láy tạo hình: “khúc khuỷu” (quanh co khó đi), “thăm thẳm” (diễn tả độ cao, độ sâu), “heo hút” (xa cách cuộc sống con người). Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc đi liền nhau “dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” (bảy chữ mà đã có tới 5 chữ là thanh trắc) khiến khi đọc lên ta có cảm giác trúc trắc, mệt mỏi như đang cùng hành quân với đoàn binh vậy. Có thể hình dung người lính Tây Tiến vừa leo lên được đỉnh dốc đã mệt nhoài lại phải đổ xuống một con dốc khác và cứ thế cuộc hành quân kéo dài với dốc cao vực thẳm.

    – Câu thơ “Heo hút cồn mây súng ngửi trời” sử dụng phép nhân hóa “súng ngửi trời” làm hiện lên hình ảnh: núi cao heo hút, mây nổi thành cồn trên đỉnh núi, người lính đi trên đỉnh núi mà như đi trên mây. Mũi súng đeo sau vai như chạm đến trời xanh “ngửi trời”. Thật là một hình ảnh ngạo nghễ có chút gì rất hóm hỉnh đùa vui kiểu lính. Chính vì chất lính trẻ trung ấy mà trước thiên nhiên dữ dội người lính Tây Tiến không bị mờ đi mà nổi lên đầy thách thức.

    – Thiên nhiên không còn là đối tượng để thưởng thức ngắm nhìn nữa mà là đối thủ: “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”. Hết lên lại xuống, xuống thấp lại lên cao, đèo nối đèo, dốc tiếp dốc, không dứt. Câu thơ được tạo thành hai vế tiểu đối: “Ngàn thước lên cao // ngàn thước xuống”, làm câu thơ như bị bẻ đôi, diễn tả con dốc với chiều cao, sâu rợn ngợp: nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm.

    b. Thiên nhiên Tây Bắc bên cạnh cái hùng vĩ, hiểm trở là những nét vẽ đầy thơ mộng trữ tình:

    – Có cảnh đoàn quân đi qua bản Mường Lát vào ban đêm và phát hiện ra vẻ đẹp trữ tình “hoa về trong đêm hơi”. “Hoa về” nghĩa là hoa nở. “Đêm hơi” là đêm sương. Hai hình ảnh ấy đặt cạnh nhau tạo nên một không gian thơ mộng. Có thể hiểu người lính hành quân trong gian khổ nhưng tâm hồn lúc nào cũng luôn lạc quan, yêu đời làm bạn với hoa rừng, sương núi.

    – Có cảnh đoàn quân đi trong mưa vừa hùng vĩ lại rất nên thơ: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ được dệt bởi những thanh bằng liên tiếp, gợi tả sự êm dịu, tươi mát của tâm hồn những người lính trẻ, trong gian khổ vẫn lạc quan yêu đời. Nhịp thơ cũng chậm lại, âm điệu nhẹ nhàng như phút nghỉ chân hiếm hoi của người lính. Trong màn mưa rừng, tầm nhìn của người chiến binh Tây Tiến vẫn hướng về những bản mường, những mái nhà dân hiền lành và yêu thương. Tất cả nhạt nhòa trong màn mưa rừng dày đặc mang cái lãng mạn của núi rừng miền Tây vừa có cái dữ dội hiểm nguy nhưng lại có cái trữ tình đáng nhớ.

    3. Bốn câu thơ tiếp theo nhà thơ miêu tả sự hi sinh gian khổ của người lính đồng thời tô đậm thêm sự dữ dội của chốn đại ngàn:

    – Sự dữ dội của núi rừng cũng vắt kiệt sức người, Quang Dũng không hề né tránh hiện thực: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa/ Gục lên súng mũ bỏ quên đời”. Người lính Tây Tiến trong cuộc hành quân gian khổ ấy đã có người ngã xuống vì kiệt sức. “Dãi dầu” là dầm mưa dãi nắng, vất vả khó nhọc. “Không bước nữa” là kiệt sức. “Gục lên súng mũ” là ngã xuống. “Bỏ quên đời” là hi sinh, mất mát. Nghệ thuật nói giảm nói tránh đã làm cho câu thơ giảm đi đau thương mà thay vào đó là sự bi tráng, hào hùng. Người lính ra đi mà như đi vào giấc ngủ bởi họ đã khoác lên mình đôi cánh của lý tưởng “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.

    – Gian khổ không chỉ là núi cao dốc thẳm, không chỉ là mưa lũ thác ngàn mà còn có tiếng gầm của cọp beo nơi rừng thiêng nước độc, nơi đại ngàn hoang vu:

    Chiều chiều oai linh thác gầm thét

    Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

    “Chiều chiều” rồi “đêm đêm” (thời gian gợi sự hiểm nguy rình rập). Những âm thanh ấy, “thác gầm thét”, “cọp trêu người”, luôn khẳng định cái bí mật, cái uy lực khủng khiếp ngàn đời của chốn rừng thiêng nước độc.

    4. Sau chặng đường dài hành quân mỏi mệt, các chiến sĩ có dịp dừng chân lại ở một bản làng có tên gọi rất đỗi yêu thương – Mai Châu. Hai câu cuối đoạn thơ, cảm xúc bồi hồi tha thiết.

    Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

    Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

    – “Nhớ ôi!” từ cảm thán mang tình cảm dạt dào. Khung cảnh đậm đà tình quân dân. Sau một thời gian dài hành quân vất vả giữa núi rừng phải chịu đói, chịu khát. Nay các anh được đồng bào tiếp đón bằng “cơm lên khói” cùng mùi hương “thơm nếp xôi” thật là ấm bụng. Chính nơi đây, mọi khó khăn gian khổ như bị đẩy lùi mà thay vào đó là niềm lạc quan và tình thơ đong đầy.

    5. Tổng kết nghệ thuật: Đoạn thơ để lại một dấu ấn đẹp đẽ về thơ ca kháng chiến mà sự thành công là kết hợp hài hòa giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Bên cạnh đó còn có các yếu tố nghệ thuật: Sử dụng nhiều từ láy tạo hình, cách sử dụng thanh trắc, điệp từ, nhân hóa, đối lập…tất cả đã tạo nên một bài thơ hay và giàu giá trị.

    III. KẾT BÀI

     

    “Tây Tiến biên cương mờ lửa khói

    Quân đi lớp lớp động cây rừng

    Và bài thơ ấy, con người ấy

    Vẫn sống muôn đời với núi sông”.

    Thầy giáo Phùng An

     

    LIÊN HỆ NGAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ BIẾT THÊM THÔNG TIN CHI TIẾT

    ĐÀO TẠO NTIC  

    Địa chỉ: Đường nguyễn lương bằng, P.Hoà Khánh Bắc, Q.Liêu Chiểu, Tp.Đà Nẵng

    Hotline: 0905540067 - 0778494857 

    Email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiến Thức Cơ Bản Và Những Dạng Đề Thi Về Bài Tây Tiến Quang Dũng
  • Cảm Nhận Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Những Cách Kết Bài Bài Thơ Tây Tiến Hay Nhất
  • Phân Tích Bài Tây Tiến Về Hình Tượng Người Lính Ngắn Gọn
  • Soạn Bài Tây Tiến Ngắn Gọn Nhất
  • So Sánh Hai Đoạn Thơ Về Thiên Nhiên Trong Tây Tiến Và Việt Bắc

    --- Bài mới hơn ---

  • Vẻ Đẹp Của Hai Đoàn Quân Ra Trận Trong Việt Bắc Và Tây Tiến
  • Anh Chị Hãy Trình Bày Cảm Nhận Về Hình Tượng Người Lính Trong Bài Tây Tiến
  • Trình Bày Cảm Nhận Về Hình Tượng Người Lính Tây Tiến Trong Bài Thơ Tây Tiến Để Làm Sáng Tỏ Những Nhận Định
  • Cảm Nhận Khổ Cuối Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng Hay Nhất
  • Cảm Nhận (Phân Tích) Đoạn Thơ Thứ Hai Trong Bài “tây Tiến”
  • “Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi!

    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

    Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

    (Tây Tiến, Quang Dũng)

    “Nhớ khi giặc đến giặc lùng

    Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.

    Núi giăng thành luỹ sắt dày

    Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.”

    ( Việt Bắc, Tố Hữu)

    Giới thiệu vài nét về tá giả và tác phẩm:

    Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài, tên tuổi của ông gắn liền với thi phẩm “Tây Tiến”. Bài thơ là nỗi nhớ lớn của tác giả về thiên nhên và con người. Bốn câu đầu thể hiện rõ nhất nội dung cũng như cảm hứng sáng tạo nghệ thuật.

    Việt Bắc là bài thơ xuất sắc của Tố Hữu. cả bài thơ là tình cảm cách mạng sâu nặng của những người cán bộ kháng chiến với chiến khu và những kỉ niệm kháng chiến. Bốn câu thơ nằm ở phần I của bài thơ phần nào thể hiện được đoạ lí ân tình thuỷ chung đó.

    Cảm nhận về đoạn thơ trong bài Tây Tiến của Quang Dũng. ( 1,5 điểm)

    Đoạn thơ bộc lộ nỗi nhớ da diết, vời vợi về miền Tây và người lính Tây Tiến. Thiên nhiên miền Tây xa xôi mà thân thiết, hoang vu và thơ mộng, con người Tây tiến gian khổ mà hào hoa.

    Hình ảnh thơ có sự hài hoà, nét thực, nét ảo, vừa mông lung, vừa gợi cảm về cảnh và người; nhạc điệu có sự hoà hợp giữa lời cảm thán với ảm xúc ( câu mở đầu như một tiếng kêu vọng vào không gian), giữa mật độ dày những âm vần ( rồi; ôi; chơi vơi; hơi), điệp từ ( nhớ/ nhớ) và lối đổi uyển chuyển (câu 3 và 4) đã tạo ra một âm hưởng tha thiết ngậm ngùi.

    Cảm nhận về đoạn thơ trong Việt Bắc ủa Tố Hữu ( 1,5 điểm)

    Đoạn thơ là nỗi nhớ da diết, khôn nguôi về những trận đánh của thiên nhiên và con người Tây Bắc. Thiên nhiên, đất trời, núi rừng Việt Bắc đã trở thành những người đồng đội, những chiến sĩ anh hùng của quân và dân ta. Nó vừa bao vây quân thù, vừa che chở cho bộ đội.

    Núi rừng vốn là những vật vô tri, song dưới con mắt của nhà thơ, núi rừng, thiên nhiên cũng trở nên ó ý chí, có tình người. Chúng cùng quân dân tham gia chiến đấu ( Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây). Nghệ thuật nhân hoá, Tố Hữu đã biến núi rừng , Thiên nhiên thành con người Việt Nam anh dũng kiên cường ( Núi …quân thù). Hai từ “che” và ” vây ” đối lập làm nổi bật vai trò của những cánh rừng ở Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

    Điểm tương đồng: Hai đoạn thơ đều bộc lộ nỗi nhớ tha thiết, sâu nặng về thiên nhiên và con người ở những miền quê mà người lính tiền chiến đã đi qua.

    Điểm khác biệt:

    + Đoạn thơ trong Tây Tiến bộ lộ nỗi nhớ cụ thể của người trong cuộc, toát lên vẻ hào hoa, lãng mạn, hình ảnh thơ nghiêng về tả thực, trực quan.

    + Đoạn thơ trong bài Việt Bắc là cái tình, là lòng biết ơn sâu nặng của người cán bộ kháng chiến đối với đất, người Việt Bắc, vì thế hình ảnh thơ nghiêng về khái quát, tượng trưng.

    Khái quát lại nội dung, nghệ thuật của hai đoạn thơ.

    Đánh giá, mở rộng vấn đề.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Về Hai Đoạn Thơ Trong Bài Thơ Tây Tiến
  • Cảm Nhận Của Anh/chị Về Hai Đoạn Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng Và Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Tây Tiến
  • Đề Bài: Cảm Nhận 14 Câu Đầu Bài Thơ Tây Tiến
  • Phân Tích Cảm Nhận 14 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Tây Tiến
  • Nỗi Nhớ Cảnh Và Người Tây Bắc Trong Bài Thơ Tây Tiến

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Vẻ Đẹp Ngôn Ngữ Thơ Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng.
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Ngôn Ngữ Thơ Ca Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • So Sánh Hai Đoạn Thơ Trong Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Và Bài Tây Tiến
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Của Người Lính Trong Bài Thơ “tây Tiến” Của Quang Dũng
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Hình Tượng Người Lính Trong Bài Thơ “tây Tiến” Của Quang Dũng
  • Đề bài: Nỗi nhớ cảnh và người Tây Bắc trong bài thơ Tây Tiến – Quang Dũng

    Bài làm

    1. Đặt vấn đề:

    Nhà thơ Chế Lan Viên từng để tâm hồn thăng hoa trong những lời thơ sâu sắc: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở / Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”. Trong cuộc đời mỗi người từng gắn bó với nhiều mảnh đất. Mỗi mảnh đất ta qua đều trở thành dấu ấn, trở thành những kỉ niệm khó quên. Nhà thơ Quang Dũng cũng đã từng trải qua cảm xúc ấy. Nỗi nhớ của ông về những năm tháng kháng chiến, về những kỉ niệm gắn bó với mảnh đất Tây Bắc đã được ghi lại chân thực trong bài thơ Tây Tiến. Ở đó, có những kỉ niệm hiện lên đẹp đẽ, lung linh hơn bao giờ hết:

    “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

    Kìa em xiêm áo tự bao giờ

    Khèn lên man điệu nàng e ấp

    Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

    Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

    Có nhớ dáng người trên độc mộc

    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

    2. Giải quyết vấn đề:

    Nếu khổ thơ thứ nhất là nỗi nhớ chơi vơi về mảnh đất miền Tây thì đến đây, nỗi nhớ lắng đọng trong đêm hội đuốc hoa đậm đà tình nghĩa và trong kí ức về con người Châu Mộc. Đọc Tây Tiến, tôi thấy toàn bài thơ là tiếng nói bổi hồi, tha thiết trong nỗi nhớ của tâm hồn. Nỗi nhớ chơi vơi, dàn trải vô định. Nỗi nhớ như từng đợt sóng, khi ào ạt. khi lặng lẽ xô vào lòng người: nhớ từ cảnh thiên nhiên hùng vĩ với dốc cao, vực sâu, thác ngàn dữ dội, nhớ đến cảnh thiên nhiên mĩ lệ, trữ tình. Và ở khổ thơ này, nỗi nhớ của Quang Dũng đã in đậm trong đêm hội đuốc hoa đậm đà tình nghĩa cùng vẻ đẹp của những người dân nơi đây.

    Mở đầu đoạn thơ là những kí ức của Quang Dũng về đêm lien hoan lửa trại đậm đà tình nghĩa:

    “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

    Kìa em xiêm áo tự bao giờ

    Khèn lên man điệu nàng e ấp

    Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

    Giữa những năm tháng gian nan của cuộc kháng chiến, những đêm lien hoan lửa trại giữa người lính và đồng bào Tây Bắc diễn ra đơn sơ nhưng đậm nghĩa, đậm tình. Thế nhưng với những người lính đang từng giây từng phút đối mặt với gian nan, thậm chí cả mất mát, hy sinh thì những đêm đơn sơ ấy lại trở thành buổi dạ tiệc huy hoàng “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa”. Doanh trại bừng lên, cả núi rừng hoang vu, âm u bỗng chợt bừng sáng, tưởng như có hàng ngàn, hàng vạn ngọn đuốc đang bao phủ núi rừng. Cảnh vật bừng tỉnh, núi rừng bừng tỉnh bởi lung linh ánh sáng, rộn ràng âm thanh của tiếng khèn, tiếng hát, của tiếng nói, tiếng cười. Trong câu thơ, Quang Dũng sử dụng một từ cổ để diễn tả không khí của đêm trại – đuốc hoa. Đây là hình ảnh thường để chỉ ngọn nến được thắp lên trong phòng cưới đêm tân hôn, như Nguyễn Du xưa kia từng viết “Đuốc hoa chỉ thẹn với chàng mai xưa”. Hình ảnh xuất hiện trong câu thơ của Quang Dũng đã tạo nên màu sắc vừa trẻ trung, vừa hiện đại, vừa lãng mạn, vừa cổ kính, thiêng liêng, ấm áp nghĩa tình keo sơn gắn bó. Trên nền ánh sáng lung linh, rực rỡ, nổi bật lên dáng vẻ uyển chuyển, mềm mại của nàng sơn nữ “Kìa em xiêm áo tư bao giờ”. Ẩn sau những từ ngữ:kìa em, xiêm áo tự bao giờ là ánh mắt ngỡ ngàng, ngạc nhiên, vui sướng của những chàng lính trẻ. Họ say sưa, ngây ngất chiêm ngưỡng vẻ đẹp của người thiếu nữ miền Tây trong trang phục lộng lẫy, trong bước đi uyển chuyển của những điệu múa làm say lòng người. Quang Dũng đã khéo miêu tả nét đẹp riêng của những nàng tiên nữ nơi núi rừng này. Những từ ngữ ấn tượng giàu sức gợi: “xiêm áo, man điệu” toát lên hương vị nơi xứ lạ, mang cái hồn riêng của miền sơn cước. Đối với những chàng trai của mảnh đất Hà Thành, đó là vẻ đẹp có sức quyến rũ kì lạ. Trong không khí tưng bừng náo nhiệt, trước vẻ đẹp huyền bí của người thiếu nữ Tây Bắc, tâm hồn người lính Tây Tiến dạt dào bao cảm xúc lãng mạn “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”. Các anh thả hồn mình theo tiếng nhạc. Lòng người xây bao mộng ước về ngày chiến thắng, mơ về ngày mai tươi sáng, mơ về những phút giây được cùng đồng bào Viên Chăn nắm tay vui múa trong ngày thắng lợi. Vì thế, dòng thơ được thi sĩ sử dụng thanh bằng, tựa như âm điệu xao suyến, âm vang. Bốn câu thơ đem lại cho lòng người ấn tượng khó phai, không chỉ bằng tình thơ lãng mạn mà còn bằng cách dùng từ rất duyên dáng của Quang Dũng: “đuốc hoa, xiêm áo, man điệu, e ấp”. Tất cả tạo cho thơ Quang Dũng dấu ấn của một phong cách riêng: hào hoa, lãng mạn, tinh tế và chân thực vô cùng.

    Bên cạnh kỉ niệm về đêm liên hoan đậm đà tình nghĩa, ấn tượng để lại sâu sắc trong lòng Quang Dũng còn là cảnh song nước miền Tây:

    “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

    Có nhớ dáng người trên độc mộc

    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

    Trong suốt bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng gửi hồn mình vào từng mảnh đất, nơi đoàn quân đã đi qua. Mỗi địa danh mang một dáng vẻ, một nét riêng in sâu trong kí ức của nhà thơ. Nhớ từ dòng sông Mã, nhớ đến vùng đất Sài Khao, nhớ đến vùng Mường Lát ngạt ngào hoa rừng, nhớ từ thanh âm cọp true người trên mảnh đất Mường Hịch nhớ đến cơn mưa rừng giăng giăng trên lưng núi Pha Luông. Mỗi mảnh đất là một kỉ niệm, một dấu ấn khó quên. Để rồi trong đoạn thơ này, hồn thơ Quang Dũng lắng chìm trong vùng quê Châu Mộc vào một buổi chiều sương – gợi nên chất thơ riêng của miền rừng núi. Khi chiều buông xuống, cả đất trời chìm trong màn sương khói mờ ảo, lãng đãng. Màn sương giăng bồng bềnh trong không gian, bao trùm mọi cảnh vật. Giữa khung cảnh ấy, Quang Dũng đặc tả vẻ đẹp của dòng sông giữa chiều sương ” Có thấy hồn lau nẻo bến bờ”. Người lính bắt gặp cái thần của cảnh nơi rừng biên giới là ở bạt ngàn hoa lau trắng. Những bông lau phớt phơ trong chiều sương ẩn trong tất cả sự hoang sơ, tính lặng và yên ả của cảnh sắc nơi đây. “Cảnh bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử”, “Cảnh hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích ngày xưa”. Lau biên giới không chỉ xôn xao trong nỗi niềm thơ Quang Dũng mà sắc trắng tinh khôi, mềm mại đó từng rung động biết bao trái tim người thi sĩ “Ai lên biên giới theo lòng ta theo với / Thăm ngàn lau chỉ đứng có một mình / Bạt ngàn trắng ở tận cùng bờ cõi / Suốt một đời cùng với gió giao tranh” (Lau biên giới – Chế Lan Viên). Có điều, trong câu thơ của mình, Quang Dũng không dùng từ ngàn lau, bãi lau mà là “hồn lau”. Nhà thơ cảm nhận vẻ đẹp của cảnh không chỉ bằng trực quan của mình mà bằng cả thế giới tâm linh để rồi nắm bắt được cả cái hồn của thiên nhiên sông núi phảng phất trong buổi chiều sương. Cách diễn đạt đem đến cho không gian thơ một ấn tượng mơ hồ, nhạt nhòa, vừa gây cảm giác lâng lâng bềnh bồng như chính tâm hồn con người chơi vơi theo từng cảnh vật. Đồng thời chỉ với từ “hồn lau”, nhà thơ đã làm sống dậy vẻ đẹp thiêng liêng của sông nước nơi này. Hồn lau – hồn của cảnh hay cũng gợi lên hồn người cảm giác bang khuâng, nao nao buồn. Dù cho cuộc chiến có nhiều gian khổ, dù hằng ngày phải cận kề với những hy sinh nhưng chẳng thể khiến tâm hồn người lính trở nên chai sạn. Các anh vẫn xôn xao cảm xúc trước một buổi chiều sương, vẫn rung động tâm hồn trước vẻ đẹp hoang sơ của lau biên giới, vẫn nôn nao cảm xúc trước vẻ đẹp của một cành hoa bé nhỏ trên dòng sông. Tất cả làm nên vẻ đẹp lãng mạn, tinh tế trong tâm hồn người lính.

    Khung cảnh thiên nhiên tĩnh lặng và hoang sơ làm nền cho sự xuất hiện của con người Tây Bắc “Có nhớ dáng người trên độc mộc / Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. Quả là minh chứng về bút pháp thi trung hữu họa! Hai dòng thơ tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp. Hình ảnh thơ từng gợi nhiều hướng cảm nhận khác nhau. Song có lẽ cảm xúc mà Quang Dũng muốn tô đậm nhất vẫn là vẻ đẹp của con người Tây Bắc và nét đẹp trong tâm hồn của người lính Tây Tiến. Dưới con mắt của các anh, dòng sông hiển hiện trong sự dữ dằn của mùa nước lũ. Cái dữ dội, cái âm thanh gầm gào, cuồn cuộn như chất chứa tất cả vẻ khắc nghiệt của thiên nhiên nơi này. Trên dòng nước cuồn cuộn trôi, hình ảnh con người nổi bật trên chiếc thuyền độc mộc giữa mênh mang sông nước. “Có nhớ dáng người trên độc mộc” – con người trở thành trung tâm của bức tranh. Nhưng ở đây, nhà thơ chỉ viết “dáng người”, nhà thơ không chú trọng ngoại hình mà đặc biệt tô đậm sức sống tâm hồn, ý chí dẻo dai, phi thường của con người khi đối diện với thiên nhiên dữ dội. Đọc câu thơ, tôi mường tượng hình ảnh bé nhỏ, mảnh mai của con người trên con thuyền đang lao nhanh giữa dòng nước lũ. Cái khắc nghiệt của thiên nhiên chẳng thể nào khuất phục con người. Dáng vẻ của con người duyên dáng, mảnh mai, dẻo dai và kiêu hãnh vô cùng. Nét đẹp của họ lồng lộng trong tư thế làm chủ giữa mien man sông nước. Dòng sông càng dữ dội bao nhiêu, dáng người trên chiếc thuyền độc mộc lại càng đem đến cho tôi cảm giác than phục và gợi nhiều cảm xúc bấy nhiêu.

    Tôn lên vẻ đẹp của con người là hình ảnh “Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. Không phải là nhành hoa trôi nổi bị cuốn theo dòng nước mà là nhành hoa bé nhỏ vẫn tồn tại, vẫn cố bám trụ trong dòng nước cuồn cuộn trôi. Thủ pháp tương phản đã được vận dụng triệt để. Ngôn ngữ tạo hình “đong đưa” được Quang Dũng vận dụng vừa gợi hình vừa gợi cảm: gợi dáng vẻ ngả nghiêng không được vững vàng nhưng vẫn không bị cuốn trôi. Cũng xuất phát từ hai chữ “đong đưa” khiến tâm hồn tôi lien tưởng: Nhành hoa nghiêng ngả, lả lướt, tình tứ đong đưa như muốn làm duyên bên dòng nước lũ. Cảnh gợi tả vô cùng! Một vẻ đẹp mềm mại nhưng ẩn chứa sức sống mãnh liệt, dẻo dai. Như thế, hoa là hình ảnh ẩn dụ, tô đậm cho nét đẹp của con người. Thiên nhiên nơi đây cũng như con người vậy, ẩn giấu vẻ đẹp huyền bí vô cùng. Nó hấp dẫn, lôi cuốn tâm hồn chàng lính trẻ, đem lại cho anh những cảm nhận tinh tế, lãng mạn và đầy chất thơ. Góp phần khắc họa vẻ đẹp mơ màng của cảnh sắc nơi đây còn là giọng thơ của thi sĩ. Quang Dũng vận dụng lien tiếp các điệp từ “có nhớ, có thấy” ở đầu hai câu thơ đem lại cảm giác nỗi nhớ thi nhau ùa về, khơi gợi trong lòng người ấn tượng khó quên về cảnh sắc thiên nhiên. Điệp khúc “có nhớ, có thấy” kết hợp với từ láy “độc mộc, đong đưa” cùng cách diễn đạt “hồn lau” đem lại cho 4 câu thơ âm điệu ngân nga như hát. Đọc đoạn thơ, tôi thấy mình như lạc vào cõi mơ của một bức tranh thủy mặc, lạc vào khung cảnh chiều sương, chiều mơ, chiều thơ và chiều họa. Hơn bao giờ hết, chất thơ và chất họa đã hòa trong nhau để làm nên thế giới nhạc và hình nên thơ như chính dòng cảm xúc say sưa trong tâm hồn thi sĩ. Có biết bao buổi chiều sương đã di vào thơ ca, đã biết bao cảnh dòng sông đắm mình trong sương được dệt nên bởi thế giới ngôn từ. Quả thật, ai đó đã rất có lý khi cho rằng “Trong thơ Quang Dũng, ta bắt gặp 1 nhạc sĩ, 1 họa sĩ, con người nào cũng thật lãng mạn, hào hoa”.

    Trong đoạn thơ, Quang Dũng đã khám phá và thể hiện được chiều sâu vẻ đẹp tâm hồn người lính Tây Tiến. Đằng sau cảnh sông nước miền Tây đẹp như bức họa thời tiền sử, đằng sau nét đẹp con người Tây Bắc là những rung cảm tinh tế trong tâm hồn người lính Tây Tiến. Họ kiên cường trước những khó khắn, gian khổ, kiên dũng, bất khuất, oai nghiêm trước quân thù. Nhưng trong tâm hồn họ, vẫn vẹn nguyên bao xúc cảm trẻ trung, thơ mộng.

    Đọc xong những ý thơ mà tôi có cảm giác vẻ đẹp của thiên nhiên, con người miền Tây còn chập chờn, mien man đâu đó. Quả thật bằng tình cảm sâu đậm của mình với mảnh đất này, Quang Dũng đã tạo nên mối tơ tình đồng điệu, gắn bó giữa độc giả với nhà thơ, giữa độc giả với thiên nhiên, con người miền Tây trong những năm tháng kháng chiến gian nan. Quả là ” Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy / Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chất Nhạc Trong Bài “tây Tiến” Của Quang Dũng (Trích)
  • Nghị Luận Về Một Đoạn Thơ, Bài Thơ
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Bi Tráng Của Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Bi Tráng Của Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Của Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Địa Danh Pha Luông Trong Bài Thơ Tây Tiến

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Tây Tiến Và Việt Bắc (1)
  • Chất Hoạ Và Chất Nhạc Trong Bài Thơ Tây Tiến
  • Soạn Bài Lớp 12: Tây Tiến
  • Đề Thi Thử Thpt Qg Theo Hướng Mới : Tây Tiến Quang Dũng
  • Bình Giảng Một Khổ Thơ Trong Bài Thơ Tây Tiến
  • Núi Pha Luông, hay còn gọi là Bờ Lung (tiếng Thái là núi lớn), cao gần 2.000 m ở khu vực biên giới Việt – Lào, thuộc huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ ngàn đời nay, Pha Luông luôn in đậm trong tâm trí mỗi người dân ở Mộc Châu với đỉnh núi sừng sững thâm u, những ngôi nhà vách gỗ, mái lợp tranh ẩn hiện trong sương mù lưng núi. Địa danh này đã được nhà thơ – người lính – Quang Dũng nhắc đến trong tác phẩm nổi tiếng Tây Tiến:

    “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn mây súng ngửi trời

    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

    Tây Tiến là đơn vị quân đội được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với quân đội Lào chống thực dân Pháp. Chiến sĩ trong đoàn quân này phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên như nhà thơ Quang Dũng. Họ chiến đấu trên khắp các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, miền Tây Thanh Hóa và Sầm Nưa (Lào). Trong hoàn cảnh gian khổ, thiếu thốn, bệnh sốt rét hoành hành, “đoàn binh không mọc tóc” Tây Tiến vẫn lạc quan, chiến đấu dũng cảm.

    Cuối năm 1948, Quang Dũng phải rời xa binh đoàn Tây Tiến chuyển sang đơn vị khác. Nhớ Tây Tiến, ông đã viết bài thơ cùng tên, sau này đổi tên là Tây Tiến.

    Theo cổng thông tin điện tử, Sơn La là tỉnh miền núi cao nằm ở phía tây bắc Việt Nam, có 250 km đường biên giới với Lào và giáp nhiều tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Hòa Bình, Phú Thọ, Lai Châu, Điện Biên, Thanh Hóa. Sơn La có một thành phố cùng tên và 11 huyện, diện tích tự nhiên hơn 14.000 km2, dân số hơn một triệu người.

    Địa hình tỉnh Sơn La chủ yếu là đồi núi và cao nguyên, bị chia cắt sâu thành những vùng đất có đặc trưng sinh thái riêng. Tỉnh có hai cao nguyên là Mộc Châu và Nà Sản.

    Mộc Châu có độ cao trung bình 1.050 m so với mực nước biển, mang đặc trưng của khí hậu cận ôn đới, đất đai màu mỡ phì nhiêu, thuận lợi cho phát triển cây chè, cây ăn quả và chăn nuôi bò sữa.

    Cao nguyên Nà Sản có độ cao trung bình 800 m, chạy dài theo trục quốc lộ 6, đất đai phì nhiêu, thuận lợi cho phát triển cây mía, cà phê, dâu tằm, xoài, nhãn, dứa…

    Tỉnh Sơn La có 12 dân tộc cùng chung sống, trong đó người Thái chiếm đông nhất với 54%, Kinh 18%, Mông 12%, Mường 8,4%, Dao 2,5%, còn lại là các dân tộc Khơ Mú, Xinh Mun, Kháng, La Ha, Lào, Tày và Hoa.

    Người Thái ở Sơn La gồm các nhóm Tay Đăm (Thái đen) và Tay Khao (Thái trắng). Họ nói tiếng Thái, trang phục của nam là âu phục, vải thổ cẩm, phụ nữ mặc áo cóm, váy, khăn piêu và trang sức truyền thống.

    Người Thái ở nhà sàn, mỗi bản có 40-60 nóc nhà kề nhau. Bản của người Thái thường ở vùng thấp, gần nguồn nước, gắn với sản xuất ruộng nước. Sản phẩm nổi tiếng của người Thái là vải thổ cẩm, với hoa văn độc đáo, màu sắc rực rỡ, bền đẹp.

    Tỉnh Sơn La có 2 hệ thống sông chính là sông Đà và sông Mã cùng 35 con suối lớn, hàng trăm suối nhỏ với nhiều thác ghềnh. Tài nguyên nước mặt của toàn tỉnh hàng năm vào khoảng 19 tỷ m3, chủ yếu từ nguồn nước mưa tích trữ vào hai hệ thống sông chính.

    Sông Đà bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, đoạn chảy qua Sơn La dài 250 km. Trên đoạn sông này, Việt Nam đã xây dựng một thủy điện Sơn La, là công trình trọng điểm quốc gia, do Quốc hội giám sát. Công trình góp phần cung cấp nguồn điện năng để phát triển kinh tế – xã hội, chống lũ về mùa mưa và cung cấp nước về mùa kiệt cho đồng bằng Bắc Bộ.

    Sông Mã bắt nguồn từ tỉnh Điện Biên, đoạn chảy qua Sơn La dài 93 km, có diện tích lưu vực 3.978 km2, mang lại nguồn cung cấp nước lớn cho địa phương.

    Cao nguyên Mộc Châu thuộc huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Nơi đây có khí hậu cận ôn đới đặc trưng, đất đai màu mỡ phì nhiêu, thuận lợi cho phát triển cây chè, cây ăn quả như mận, đào và chăn nuôi bò sữa.

    Những cánh đồng mận bát ngát hoa trắng, lấp ló phía dưới là những nếp nhà sàn của đồng bào H’Mông hay những đồi chè xanh tươi được bao quanh bởi núi non trùng điệp… cũng là điểm thu hút du khách đến với Mộc Châu.

    Và ai khi đặt chân lên đồi chè của cao nguyên này cũng thích thú khi thấy được cắt tỉa thành lớp lớp hình trái tim. Nhiều bạn trẻ và các đôi uyên ương đã chọn đây là điểm chụp hình lý tưởng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Hứng Lãng Mạn Và Tinh Thần Bi Tráng Trong Bài Thơ Tây Tiến
  • Hãy Làm Rõ Vẻ Đẹp Lãng Mạn Và Tính Chất Bi Tráng Của Hình Ảnh Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến
  • Phân Tích Cảm Hứng Lãng Mạn Và Tính Chất Bi Tráng Trong Bài Thơ Tây Tiến
  • Bút Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng Là Bút Pháp Tả Thực Hay Lãng Mạn?
  • Cảm Nhận Vẻ Đẹp Nỗi Nhớ Miền Tây Tha Thiết Của Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến Và Việt Bắc
  • Chất Hoạ Và Chất Nhạc Trong Bài Thơ Tây Tiến

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 12: Tây Tiến
  • Đề Thi Thử Thpt Qg Theo Hướng Mới : Tây Tiến Quang Dũng
  • Bình Giảng Một Khổ Thơ Trong Bài Thơ Tây Tiến
  • Bài Văn Mẫu Lớp 12: Phân Tích Tâm Trạng Của Tác Giả Trong Bài Thơ Tây Tiến
  • Bài Viết Số 3 Lớp 12 Đề 2: Phân Tích Tâm Trạng Của Tác Giả Khi Nhớ Về Miền Tây Bắc Bộ Và Những Người Đồng Đội Trong Bài Tây Tiến
  • Mỗi người nghệ sĩ thường gắn bó với một vùng đất nào đó, nếu Hoàng Cầm là sông Đuống, thì với Quang Dũng đó là con sông Mã. Mỗi lần đọc lại Tây Tiến, ta luôn thấy một hồn thơ Quang Dũng rất đỗi hồn nhiên, một cái tôi hào hoa thanh lịch và hết sức lãng mạn. Là một nghệ sĩ có rất nhiều tài năng, Quang Dũng làm thơ, vẽ tranh rồi soạn nhạc. Có phải chăng chính vì vậy mà chất họa chất nhạc luôn hào quyện vào thơ ông, khiến những bài thơ ông viết đều có sức tạo hình và ngân nga trong lòng người đọc? Và điều làm nên thành công, sự độc đáo, sức ngân vang của Tây Tiến chính là việc Quang Dũng đã phát huy và kết hợp một cách nhuần nhuyễn hai yếu tố hội họa và âm nhạc trong thơ.

    Chất liệu của hội họa là màu sắc, đường nét. Chúng thể hiện sự cảm nhận trực tiếp thế giới và con người của nhà văn. Còn chất liệu của âm nhạc là âm thanh, nhịp điệu, tiết tấu.. Nhà văn, nhà thơ dùng âm thanh làm phương tiện diễn đạt tư tưởng, tình cảm. Khi khám phá tính nhạc trong thơ nghĩa là xem việc tác giả đã sử dụng, kết hợp từ ngữ như thế nào để tạo ra hài hòa về âm thanh, sự nhịp nhàng cho thơ.

    Với Tây Tiến, mạch cảm xúc bao trùm của bài thơ chính là sự hồi tưởng, kỉ niệm này gọi là kỉ niệm kia như những đợt sống tuôn trào. Tất cả hiện lên thật sống động qua sự kết hợp nhuần nhuyễn của yếu tố họa và yếu tố nhạc.

    Khúc dạo đầu là nỗi nhớ “chơi vơi”, vừa xa xăm, sâu lắng, vừa thiết tha, quyến luyến:

    “Sông Mã … chơi vơi”.

    Từ biểu cảm “ơi” kết hợp với từ láy “chơi vơi” tạo nên âm hưởng thiết tha ngân mãi trong lòng người, vọng mãi vào thời gian, năm tháng. Sông Mã xa rồi, Tây Tiến cũng xa rồi, nhưng tất cả cứ ùa về trong kí ức, xâu chuỗi những kỉ niệm để người đi còn nhớ mãi. Từ đây, tất cả những kỉ niệm thời Tây Tiến được hiện về trong nỗi nhớ mang màu sắc lung linh, đẹp kì lạ. Kí ức này chi phối việc lựa chọn phối thanh, phối màu trong bức tranh Tây Tiến.

    Đầu tiên là hình ảnh:

    “Sài Khao … quân mỏi”.

    Câu thơ có sức tạo hình rất lớn. Chỉ một vài nét chấm phá, ta như tưởng tượng ra cảnh những người chiến binh phải hành quân trong mù sương dày đặc thăm thẳm lạnh lẽo. Sương dày bủa vậy như che lấp cả đoàn quân. Đoàn quân cứ đi, đêm nối đêm, ngày nối ngày, dãi dầu trong gian khó:

    “Dốc lên … mưa xa khơi”.

    Quang Dũng đã vẻ nên một bức tranh đầy hiểm trở, dữ dội, khúc khuỷu của rừng miền Tây. Hàng loạt những từ ngữ giàu tính tạo hình được huy động “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, “sung ngửi trời”, … đã diễn đạt thật “trúng” sự dữ dội của núi đèo. Đọc những câu thơ này, người đọc như thấy hiện ra trước mắt mình những ngọn dốc vừa khúc khuỷu, vừa cao ngất trời lại vừa thăm thẳm. Từ “heo hút” vừa gợi ra độ cao của núi, vừa gợi ra độ sâu của dốc và cả cái vắng lặng, hoang vu đến rợn người. Cảnh núi đèo quả là dữ dội và hiểm trở!. Nếu như hai câu đầu là cái nhìn lên, thì đến câu thứ ba, nét vẽ của Quang Dũng lại diễn tả cái nhìn xuống: “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”. Chính bút pháp tương phản và nét vẽ gân guốc đã làm nổi bật tính tạo hình, nói như người xưa là “thi trung hữu họa”. Nhưng xen vào những nét vẻ gân guốc ấy là những nét vẽ rất mềm mại, như xoa dịu cả khổ thơ:

    “Nhà ai… xa khơi”.

    Gam màu lạnh này làm ta hình dung ra cảnh những người lính tạm dừng chân bên một dốc núi, họ phóng tầm nhìn ra xa.

    Bên cạnh việc sử dụng thật tài tình yếu tố hội họa, đoạn thơ còn thấm đẫm chất nhạc. Chất nhạc được tạo ra bởi những âm hưởng đặc biệt qua hình ảnh:

    “Dốc lên… ngửi trời”.

    Việc sử dụng toàn thanh trắc: “dốc”, “khúc khuỷu”, “thẳm”, “hút”, “sung”, “ngửi” … như làm cho độ cao của núi, độ dốc của đèo, độ khúc khuỷu hiểm trở của con đường cứ tăng lên mãi, diễn tả sự khó khan hiểm trở của núi rừng. Nhưng câu thơ thứ tư lại toàn thanh bằng:

    “Nhà ai … xa khơi”

    Nhịp thơ trầm xuống, như xoa dịu những trúc trắc ở trên. Cách phối thanh đã đem đến hiệu quả rõ rệt cho lời thơ: người đọc cảm thấy được thư giãn sau những phút căng thẳng.

    Trở lại với đoạn đầu bài Tây Tiến, qua sự phối thanh, phối màu độc đáo, cảnh núi rừng hiện lên vừa có núi, có vực sâu, có mưa rừng, sương lấp, cọp dữ lại vừa có “hoa về” trong đêm hội lãng mạn. Làm cho nỗi nhớ của người lính thêm lưu luyến, khắc khoải.

    Giữa hoàn cảnh khó khăn, gian khổ vẩn có hương hoa rừng thoang thoảng đưa về trong mịt mù sương khuya. Cảnh đẹp tựa như mơ. Đoạn thơ kết thúc bằng một đường nét và âm điệu hết sức đầm ấm:

    “Nhớ ôi … nếp xôi”

    Khói của cơm, hương thơm của lúa nếp ngày mùa khiến lòng thi sĩ ấm lại. Hai câu thơ với than từ “ôi” đã tạo nên một âm điệu êm dịu, tha thiết, ấm áp vô cùng.

    Đoạn thơ thứ hai, Quang Dũng sử dụng những đường nét mêm mại và đặc biệt tinh tế. Qua nét vẽ tài hoa ấy, người đọc như “bừng ngộ” trước vẻ đẹp nên họa, nên thơ của núi rừng. Nhà thơ khao khát khám phá, tìm hiểu nó. Ấy là một đêm liên hoan văn nghệ dưới ánh đuốc bập bùng:

    “Doanh trại … hồn thơ”

    Với những nét vẻ khỏe khoắn say mê, Quang Dũng dẫn ta vào một đêm văn nghệ rất thực mà ngỡ như mơ: cả doanh trại bừng sáng dưới ánh lửa đuốc bập bùng. Trong ánh đuốc đó, cảnh vật, con người hiện lên vừa thực, lại vừa ảo. Những cô gái của núi rừng miền Tây hiện ra vừa lộng lẫy, vừa e thẹn, vừa tình tứ trong vũ điệu đậm màu sắc phương xa. Trong vẻ đẹp rực rỡ của ánh đuốc, trong nét dìu dặt của tiếng khèn, các anh lính đang nghĩ về ngày mai nơi đất bạn Lào.

    Nhịp điệu của bốn câu thơ như nhịp nhặt khoan, dìu dặt của tiếng khèn, gợi vẻ khỏe khoắn, trẻ trung. Hai từ “kìa em” làm giọng đoạn thơ như cũng ngỡ ngàng, vừa ngạc nhiên, vừa say mê, vui sướng. Bốn câu thơ chan chứa màu sắc, âm thanh, vừa ấm áp tình người.

    Từ nét vẽ khỏe khoắn trong đêm hội đuốc hoa, Quang Dũng chuyển sang nét vẽ tinh tế, mềm mại khi ta cảnh chiều sương Mộc Châu:

    ” Người đi … đong đưa”.

    Chỉ bằng một nét chấm phá đơn sơ nhưng tác giả đã gợi được cái thần, cái hồn của cảnh vật. Bốn câu thơ như một bức tranh lụa.

    Trong đoạn hai này, chất nhạc và chất họa hòa quyện. Bốn câu đầu ru ta trong nhạc điệu cất lên từ men say của tâm hồn người lình Tây Tiến.

    Bốn câu sau là những nét vẽ tài hoa gợi lên cái thần, cái hồn của tạo vật.

    Xuân Diệu cũng thật có lý khi nói rằng: “Đọc Tây Tiến, ta có cảm tưởng như ngậm nhạc trong miệng”.

    Đến đoạn thơ thứ ba, Quang Dũng đã làm sống lại thể “hành” cổ xưa với những câu thơ rắn rỏi, gân guốc:

    “Tây Tiến… kiều thơm”.

    Việc sử dụng nhiều thanh trắc đi liền nhau tạo nên vẻ bi tráng cho bức tượng đài tập thể về đoàn quân Tây Tiến. Cộng hưởng thêm nghệ thuật tương phản:

    “Quân xanh màu lá/ dữ oai hùm”.

    Càng làm nổi bật tư thế hiên ngang của những người chiến sĩ.

    Nhà thơ không chỉ dừng lại ở những đường nét khắc họa bên ngoài mà còn thể hiện được thế giời tâm hồn đầy mơ mộng của họ:

    “Đêm mơ… kiều thơm”.

    Ở những câu thơ cuối, ta thấy hơi thở, nhịp thơ mang đậm chất “hành”.

    Còn nhớ “Tống biệt hành” của Thâm Tâm, hay “Hàng phương Nam” của Nguyễn Bính. Cả hai đều mang âm vang của phương Bắc. Nhưng đến Tây Tiến, thể “hành” đã được “Việt hóa” rõ ràng hơn:

    “Rải rác… độc hành”.

    Giọng điệu chủ đạo của đoạn thơ là niềm đau thương vô vạn của tác giả trước sự hy sinh của đồng đội. Nhưng Quang Dũng đã làm dịu lại niềm đau thương đó bằng sự kết hợp từ, vần và thanh.

    Câu đầu “Rải rác.. viễn xứ”, gợi ra hình ảnh nấm mồ chiến sĩ rác rác nơi rừng hoang vắng. Nhưng bằng việc sử dụng từ Hán Việt “biên cương”, “viễn xứ” làm trang trọng hóa giọng thơ, biến nỗi đau bi lụy thành bi tráng.

    Dường như Quang Dũng rất có tài trong việc sử dụng các thanh âm trắc. Tác giả đã đưa vào khổ thơ này với một mức độ dày đặt, khiến câu thơ rắn rỏi, gân guốc hơn. Và như được thể, tiếng gầm thét của con sông Mã cộng hưởng vào làm người đọc không thấy những niềm đau, bi lụy nữa mà họ thấy người lính Tây Tiến với vẻ đẹp kiêu hùng, bi tráng đến lạ thường!.

    Sau những gân guốc ấy, ta lại thấy giọng đượm buồn:

    “Tây Tiến… về xuôi”

    “Không hẹn ước”, “một chia phôi”, “chẳng về xuôi”. Thật dứt khoát làm sao!. Làm âm hưởng đoạn thơ cuối dù thoáng buồn nhưng vẫn tráng lệ, hào hùng.

    Như Đinh Minh Hằng, in trong Vẻ đẹp văn học cách mạng từng nói:”… Tây Tiến … nơi mà con người Tây Tiến, chiến sĩ Tây Tiến, núi rừng Tây Tiến đã vượt ra ngoài những cảm quan ban đầu của hồn thơ Quang Dũng để đến với đại ngàn thi hứng. Nơi ấy, cuồn cuộn dòng chảy lạnh lùng và đa tình, hiện thực và lãng mạn, bi và tráng. Một Tây Tiến không chỉ níu kéo bước chân người lính trong nỗi niềm nhớ… Tất cả đều gợi ấn tượng của sự “lạ hóa”, của những vẻ đẹp kì ảo khó gọi tên…”.

    Vâng, Tây Tiến vẫn còn đó với con sông Mã yêu thương, lúc hiền hòa, lúc hào húng, tráng lệ.

    Palaton đã nói: “Thơ là thần hứng” thơ chỉ ra đời trong những giây phút thăng hoa người người nghệ sĩ. Quang Dũng đã có được giây phút ấy khi viết Tây Tiến. Từ xưa đến nay, thơ phải là tiếng hát thật sự của tâm hồn, khi tâm hồn lên tiếng, thì nhà thơ không cần lý luận. Điều đó giải thích vì sao hơn nửa thế kỉ qua, Tây Tiến luôn được bạn độc yêu mến và nâng niu. Rồi khi gấp lại Tây Tiến, ta vẫn thương những vần thơ đầy chất nhạc, chất họa quyện hòa ấy.

    Phạm Thoa

    Tổng hợp những đề thi về bài Tây Tiến của Quang Dũng : https://vanhay.edu.vn/tag/tay-tien

    Tổng hợp những đề thi về bài Việt Bắc Tố Hữu: https://vanhay.edu.vn/tag/viet-bac

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Tây Tiến Và Việt Bắc (1)
  • Địa Danh Pha Luông Trong Bài Thơ Tây Tiến
  • Cảm Hứng Lãng Mạn Và Tinh Thần Bi Tráng Trong Bài Thơ Tây Tiến
  • Hãy Làm Rõ Vẻ Đẹp Lãng Mạn Và Tính Chất Bi Tráng Của Hình Ảnh Người Lính Trong Bài Thơ Tây Tiến
  • Phân Tích Cảm Hứng Lãng Mạn Và Tính Chất Bi Tráng Trong Bài Thơ Tây Tiến
  • Bình Giảng Một Khổ Thơ Trong Bài Thơ Tây Tiến

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Mẫu Lớp 12: Phân Tích Tâm Trạng Của Tác Giả Trong Bài Thơ Tây Tiến
  • Bài Viết Số 3 Lớp 12 Đề 2: Phân Tích Tâm Trạng Của Tác Giả Khi Nhớ Về Miền Tây Bắc Bộ Và Những Người Đồng Đội Trong Bài Tây Tiến
  • Phân Tích Tâm Trạng Của Tác Giả Khi Nhớ Về Miền Tây Bắc Trong Bài Tây Tiến
  • Phân Tích Tâm Trạng Của Tác Giả Khi Nhớ Về Miền Tây Bắc Trong Một Đoạn Thơ Bài Tây Tiến
  • Phân Tích Hình Ảnh Người Lính Tây Tiến Trong Bài “tây Tiến” Của Quang Dũng
  • Bình giảng một khổ thơ trong bài thơ Tây Tiến

    Tham khảo bài văn bình giảng một khổ thơ trong bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng được viết bởi 1 bạn học sinh trường THPT chuyên Hoàng Văn Thụ.

    Đề bài:

    Sách giáo viên Văn 12 cho rằng đây là một khổ thơ tuyệt bút của Quang Dũng trong bài Tây Tiến. Hãy bình giảng để làm nồi rõ cái hay, vẻ đẹp của khổ thơ đó.

    BÀI LÀM

    Bài thơ Tây Tiến có thể xem như một hiện tượng “xuất thần” của Quang Dũng trong thơ kháng chiến chống Pháp. Đó là “đứa con đầu lòng hào hoa và tráng kiện(Phong Lê) được khí phách của cả một thời đại ùa vào, chắp cánh để cho cái chất bi tráng bay lên như một nét dẹp hiếm có của một thời thơ. Và đây là một nét đẹp hào hùng trên đường hành quân gian khổ của người lính Tây Tiến qua sự hồi tưởng của nhà thơ:

    Bốn câu.thơ mà dựng lên trước mắt ta cái độ cao đến rợn người của chiến trường Tây Tiến. Người lính phải hành quân lên cao mãi, hết dốc này đến dốc khác, đã “khúc khuỷu” lại “thăm thẳm”. Nhịp thơ dừng ở vần trắc Dốc lên thăm thẳm dốc khúc khuỷu tưởng như nghe được nhịp thở nặng nhọc, gấp gáp của người chiến sĩ đang trèo núi để chiếm lĩnh những độ cao thăm thẳm. Ngỡ như các anh đang đi trong mây, đang cưỡi trên mây (“cồn mây”) dể lên đến đỉnh trời. Và khi đã chiếm lĩnh được đỉnh cao nhất thì “sung” các anh đã “ngửi trời”! Có một tiếng cười, thú vị tinh nghịch của người lính hào hoa Hà Nội khi đã chiếm lĩnh được đỉnh cao nhất. Không phải súng chạm trời mà là súng ngửi trời. Khẩu súng được nhân hóa như người (chính là các anh đó thôi!) đã khiến câu thơ trở nên hóm hỉnh, tinh nghịch, mang chất hào hoa của những chàng trai đất kinh thành hoa lệ lên đánh giặc ở miền Tây. Câu trên nặng nhọc, gấp gáp câu dưới nhẹ nhàng thơ mộng trong sự tự hào của người chiến thắng. Ta hiểu đây không chỉ là đỉnh cao của thiên nhiên mặt đất mà chính là đỉnh cao trong sự chiến thắng của tinh thần, nghị lực người chiến sĩ.

    Cái độ cao ấy chắc chắn đã thành ấn tượng trong nỗi nhớ của Quang Dũng đối với chiến trường miền Tây đến mức nhà thơ phải nhắc đến hai lần trong một khổ thơ ngắn. Và lần thứ hai lại là một sáng tạo đặc sắc của thơ Quang Dũng:

    Câu thơ gấp khúc như bị ngắt làm hai Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống diễn tả rõ con đường hành quân lên rất cao rồi lại xuống rất sâu trên những vách núi dựng đứng của chiến trường Tây Tiến. Nếu câu trên được dùng nhiều thanh trắc, đặc biệt ở cuối câu thơ (ngàn thước xuống) tạo nôn sự khúc khuỷu, gập ghềnh cheo leo, vất vả thì câu dưới lại dùng toàn thanh bằng, hầu hết là thanh không dấu khi câu thơ êm ả như một sợi khói nhẹ dang bay lên trời: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi, Sự đôi lập của thanh điệu, nhịp điệu câu thơ đem đến sự đối lập của cảnh và tình trong hai câu thơ và đấy chính là nét tài hoa của thi sĩ. Xưa, Tản Đà cũng có câu thơ như vậy:

    Nhưng câu thơ của Tản Đà.chủ yếu là gợi tình, còn câu thơ của Quang Dũng chủ yếu lại vẽ cảnh. Tất nhiên trong cảnh có tình. Trên đường hành quân ra trận, hình ảnh một mái nhà thấp thoáng trong màn mưa mỏng nơi lưng chừng núi thì ấm lòng chiến sĩ, gợi nhớ tình người biết bao! Mặt khác, trên, đường hành quân cheo leo vách núi dựng đứng, mà vẫn không bỏ qua một mái nhà thơ mộng nhứ vậy, thì đó chính là tâm hồn hào hoa nghệ sĩ của người lính Tây Tiến những chàng trai kinh thành “đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Tâm hồn các anh phải phong phú, cao đẹp, lãng mạn như thế nào thì mới viết nên những câu thơ tài hoa như vậy. Và chỉ một khổ thơ nhớ lại bước đường hành quân trên núi cao Tây Tiến của các anh mà đã bộc lộ rõ cái nét tài họa ấy,. Đó là khẩu khí Quang Dung đã thổi hồn vào ngôn ngữ thi ca để làm nên khổ thơ tuyệt bút mang đậm chất thơ Tây Tiến này.

    – HẾT –

    I/MỞ BÀI

    Quang Dũng ( 1921-1988) là một nghệ sĩ đa tài với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa. “Tây Tiến” là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ và thể hiện sâu sắc phong cách thơ Quang Dũng. Có thể nói, tinh hoa của bài thơ được hội tụ lại trong khổ thơ đầu tiên. Khổ thơ đã dựng lên bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, mĩ lệ của núi rừng miền Tây, nơi nhà thơ cũng đoàn quân Tây Tiến đã từng hoạt động, chiến đấu.

    II/THÂN BÀI

    1/ Giới thiệu chung.

    Bài thơ “Tây Tiến” được sáng tác năm 1948 tại làng Phù Lưu Chanh, khi nhà thơ đã rời khỏi đơn vị cũ Tây Tiến, chuyển sang hoạt động tại một đơn vị khác.

    Tây Tiến là một đơn vị bộ đội chống Pháp được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt Lào, tiêu hao sinh lực Pháp tại Thượng Lào và miền Tây Bắc Việt Nam. Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến rất rộng lớn trải dài từ Sơn la, Hòa Bình, miền tây Thanh Hóa đến Sầm Nưa ( Lào) – là những nơi hiểm trở, hoang vu, rừng thiêng nước độc. Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, có nhiều học sinh, sinh viên, trong đó có Quang Dũng. Họ sống và chiến đấu trong hoàn cảnh gian khổ, thiếu thốn, bệnh sốt rét hoành hành nhưng vẫn lạc quan, anh dũng. Hoạt động được hơn một năm thì đơn vị Tây Tiến trở về Hòa Bình thành lập Trung đoàn 52.

    Bài thơ ra đời từ nỗi nhớ, kỉ niệm, hồi ức của Quang Dũng về đồng đội và địa bàn chiến đấu cũ. Tác phẩm sau khi ra đời đã được bao thế hệ thanh niên và bạn yêu thơ truyền tay tìm đọc. Đến năm 1986, bài thơ được in trong tập thơ ” Mây đầu ô” ( xuất bản 1986).

    Ban đầu bài thơ có tên là ” Nhớ Tây Tiến”, sau đó tác giả chuyển lại thành ” Tây Tiến”. Nhan đề ” Tây Tiến” đảm bảo tính hàm súc của thơ, không cần phải trực tiếp bộc lộ nỗi nhớ mà tình cảm ấy vẫn hiện lên sâu sắc, thấm thía. Nhan đề còn làm nổi rõ hình tượng trung tâm của tác phẩm, đó là hình tượng đoàn quân Tây Tiến. Việc bỏ đi từ “nhớ” đã vĩnh viễn hóa đoàn quân Tây Tiến, khiến cho hình ảnh người lính Tây Tiến trở thành bất tử trong thơ ca kháng chiến Việt Nam.

    “Tây Tiến” là bài thơ in đậm phong cách tài hoa, lãng mạn, phóng khoáng của hồn thơ Quang Dũng. Tác phẩm đã bộc lộ nỗi nhớ sâu sắc của nhà thơ với người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng. Đoạn thơ thứ nhất đã tái dựng lại sống động bức tranh thiên nhiên miền Tây với những khung cảnh, những chặng đường hành quân gian khổ, từ đó hình ảnh những chiến sĩ Tây Tiến cũng lần lượt hiên ra.

    2/ Phân tích đoạn thơ

    a/ Bài thơ mở ra bằng một nỗi nhớ trào dâng:

    Tiếng gọi “Tây Tiến ơi” bật lên bởi một nỗi nhớ sâu sắc, cồn cào không kìm nén nổi. Đối tượng của nỗi nhớ ấy rất cụ thể, rõ ràng là: “sông Mã”, “Tây Tiến”, “rừng núi”. Nỗi nhớ ấy phải khắc khoải lắm thì tác giả mới điệp lại hai lần từ ” nhớ”. ” Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ chập chờn hư thực, vừa tha thiết, thường trực, vừa mênh mang, đầy ám ảnh, vừa mở ra không gian của tiềm thức, vừa như gợi ra không gian trập trùng của núi đèo rộng lớn. Cách hiệp vần “ơi” làm câu thơ như ngân vang, phù hợp với biên độ của cảm xúc.

    Hai câu thơ đầu đã khơi mạch chủ đạo của cả bài thơ là nỗi nhớ khôn nguôi. Nỗi nhớ ấy được cụ thể dần dần trong những vần thơ tiếp sau.

    b/ Hai câu thơ tiếp: gợi lại hình ảnh đoàn quân hành quân trong đêm:

    Hai câu thơ vừa tả thực, vừa sử dụng bút pháp lãng mạn.Những từ chỉ địa danh Sài Khao, Mường Lát gợi ra địa bàn rộng lớn, đầy lạ lẫm đối với người lính Tây Tiến. Sương mù vùng cao dày đặc như trùm lấp bước chân, nuốt chửng cả đoàn binh vốn đang mỏi mệt, rệu rã vì chặng đường dài gian khổ. Quang Dũng đã nhìn thấy và miêu tả một mảng hiện thực khuất lấp trong thơ ca kháng chiến. Nhưng những người lính ấy, dù mệt mỏi mà tâm hồn vẫn trẻ trung, hào hoa, lạc quan, yêu đời. Hình ảnh ” hoa về trong đêm hơi” là hình ảnh đẹp giàu sức gợi. Đó có thể là những ánh đuốc sáng lung linh của đoàn quân đang tiến về bản làng, cũng có thể là hình ảnh đoàn quân từ rừng đi ra, trên tay vẫn cầm theo những đóa hoa rừng ngát hương, mà đó cũng có thể là hình ảnh ẩn dụ về đoàn quân Tây Tiến như những bông hoa rừng. Đoàn quân ấy hành quân trong một ” đêm hơi” đầy huyền ảo, mơ hồ, bảng lảng khói sương chốn rừng suối. Hai câu thơ in đậm dấu ấn tài hoa, lãng mạn của Quang Dũng.

    c/Bốn câu thơ tiếp theo đặc tả địa hình hiểm trở của miền Tây:

    Nhà thơ sử dụng một loạt các từ láy tượng hình “khúc khuỷu”, ” thăm thẳm”, ” heo hút”, kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 như chặt đôi câu thơ, mật độ thanh trắc dày đặc khiến câu thơ trúc trắc gợi sự vất vả, nhọc nhằn. Những phép tu từ đó mở ra trong tâm tưởng người đọc ấn tượng về sự gập ghềnh, hiểm trở, ẩn chứa bao bất trắc, nguy hiểm của núi cao, vực sâu nơi núi rừng miền Tây. Hình ảnh ” súng ngửi trời” là một nhân hóa táo bạo, đặc tả sự chót vót của dốc núi. Người lính Tây Tiến leo lên đỉnh dốc, cảm tưởng như mũi súng có thể chạm mây. Từ đó, ta cũng thấy được nét tinh nghịch khỏe khoắn, vẫn có thể trêu đùa vô tư sau một chặng đường hành quân vất vả, mệt nhọc của các anh lính Tây Tiến. Phép đối ” ngàn thước lên cao – ngàn thước xuống” càng nhấn mạnh độ gập ghềnh, hình sông thế núi trập trùng, hiểm trở của thiên nhiên miền Tây. Ba câu thơ giàu chất hội họa, dựng lên bức tranh hoang vu, dốc đèo đứt nối, hùng vĩ trên con đường hành quân của chiến sĩ Tây Tiến. Câu thơ thứ tư toàn bộ là bảy thanh bằng ” Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”, vần mở “ơi” đặt cuối câu tạo cảm giác nhẹ nhàng gợi ra những phút giây nghỉ ngơi thư giãn của người lính. Họ đứng trên những đỉnh núi, thưởng thức chút bình yên, vẻ đẹp lãng mạn của núi rừng, phóng tầm mắt, thấy mưa rừng giăng mờ nơi bản làng Pha Luông xa xôi. Bốn câu thơ vừa gợi ra sự dữ dội hoang vu, sự êm đềm của núi rừng, vừa gợi ra những cuộc hành quân vất vả nhọc mệt nhưng đầy trẻ trung, yêu đời của các chàng trai Tây Tiến.

    d/Người lính Tây Tiến không chỉ đối diện với dốc cao vực sâu mà còn phải chịu những mất mát hi sinh:

    Cách nói tránh về cái chết “không bước nữa”, “bỏ quên đời” gợi tư thế ngạo nghễ của người lính Tây Tiến. Họ chủ động chấp nhận cái chết, coi nó chỉ đơn giản như một giấc ngủ mà thôi. Tư thế hi sinh ” gục lên súng mũ” đầy xót xa nhưng cũng thật hào hùng. Hình ảnh về người lính anh dũng hi sinh ấy sau này ta còn bắt gặp trong “Dáng đứng Việt Nam”: ” Và anh chết trong khi đang đứng bắn- Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng”. Câu thơ đã tiếp tục cảm hứng bi tráng khi xây dựng chân dung người lính Tây Tiến.

    e/Và người lính Tây Tiến tiếp tục chịu sự thử thách của núi rừng miền Tây:

    Các từ láy chỉ biên độ lặp lại thường xuyên của thời gian” chiều chiều”, “đêm đêm” kết hợp với biện pháp nhân hóa ” thác gầm thét”, ” cọp trêu người” đã nhấn mạnh vẻ bí hiểm, dữ dội,hoang dã chứa đầy nguy hiểm, cái chết luôn luôn rình rập đe dọa người lính của núi rừng miền Tây. Sự nguy hiểm ấy không chỉ trải rộng trong không gian mà còn kéo dài và lặp lại thường xuyên theo thời gian.

    g/Hai câu thơ cuối đoạn lại đột ngột chuyển cảnh:

    Núi cao rừng rậm lùi xa, chỉ còn lại hương vị ấm áp nghĩa tình quân dân lan tỏa từ nồi cơm của các cô gái Thái. Từ cảm thán ” Nhớ ôi” đứng đầu câu thơ diễn tả nỗi nhớ da diết, ám ảnh khôn khuây của Quang Dũng cũng như người lính Tây Tiến về đồng bào miền Tây. Nhà thơ như nhói lòng khi hồi tưởng lại cảnh đoàn quân quây quần quanh nồi xôi nếp thơm lừng đang bốc khói. Đó là những giây phút ấm áp ngắn ngủi nhưng lại dịu ngọt, tinh tế nên khắc sâu mãi trong tâm trí nhà thơ. Cách kết hợp từ ” mùa em” rất độc đáo, gợi những liên tưởng đẹp, lãng mạn về những cô gái Thái vừa khỏe khoắn vừa dịu dàng mà đằm thắm yêu thương. Hai câu thơ kết thúc đoạn một bài thơ Tây Tiến có âm điệu nhẹ nhàng tha thiết gợi cảm giác êm dịu, ấm áp, tạo tâm thế cho người đọc cảm nhận đoạn thơ tiếp theo.

    Trong những đoạn thơ còn lại, nhà thơ Quang Dũng tiếp tục hồi tưởng về cảnh những đêm liên hoan văn nghệ thắm thiết tình quân dân, những buổi chiều trên sông nước miền Tây thơ mộng, hư ảo, hồi tưởng về chân dung tập thể những người lính Tây Tiến anh dũng, hào hoa. Cuối bài thơ, Quang Dũng bộc lộ lời nguyện thề mãi gắn bó với miền Tây và đoàn quân Tây Tiến.

    III/ KẾT BÀI.

    Đoạn thơ đầu bài thơ Tây Tiến đã thể hiện tài hoa và tâm hồn lãng mạn phóng khoáng của nhà thơ Quang Dũng. Đoạn thơ có ngôn ngữ giàu chất tạo hình, giàu nhạc điệu, gây ấn tượng táo bạo, dựng lên bức tranh sinh động, có chiều sâu về cảnh hành quân của đoàn quân Tây Tiến trên cái nền thiên nhiên rừng núi hùng vĩ thơ mộng miền Tây. Qua đó, ta cảm nhận được sự gắn bó sâu sắc, nỗi nhớ tha thiết của nhà thơ Quang Dũng về những ngày tháng chiến đấu trong đoàn quân Tây Tiến – một thời mãi mãi để nhớ và tự hào.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Thi Thử Thpt Qg Theo Hướng Mới : Tây Tiến Quang Dũng
  • Soạn Bài Lớp 12: Tây Tiến
  • Chất Hoạ Và Chất Nhạc Trong Bài Thơ Tây Tiến
  • Phân Tích Tây Tiến Và Việt Bắc (1)
  • Địa Danh Pha Luông Trong Bài Thơ Tây Tiến
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100